
Hiệp định Đối tác kinh tế (EPA) Việt Nam - Nhật Bản sau hơn một năm rưỡi đàm phán đã hoàn tất thỏa thuận nguyên tắc và dự kiến đi đến ký kết chính thức vào cuối năm nay.
Nếu được ký kết, dự kiến ít nhất sẽ có 86% hàng nông lâm thủy sản và 97% hàng công nghiệp Việt Nam xuất sang Nhật sẽ được hưởng ưu đãi thuế từ hiệp định này.
Dưới đây là cuộc trao đổi của chúng tôi với ông Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Bộ Công Thương về thỏa thuận này.
EPA là một hiệp định mang tầm chiến lược trên nhiều lĩnh vực, tạo ra nhiều thuận lợi cho quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản. Theo những thoả thuận trong đàm phán, hai phía Việt Nam và Nhật Bản đã đề nghị xóa bỏ cho nhau hoặc giảm thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng nào, thưa Bộ trưởng?
Trong các cuộc đàm phán, Nhật Bản chủ yếu đề nghị Việt Nam mở cửa hơn nữa cho một số hàng hoá công nghiệp của Nhật Bản được tiếp cận thị trường Việt Nam. Ngược lại, phía Nhật Bản cũng sẽ mở cửa nhiều hơn cho các mặt hàng dệt may, thuỷ sản và nông sản của Việt Nam.
Tất cả những điều này đều có tính toán rất cụ thể và phù hợp với Hiệp định thương mại đầu tư giữa ASEAN và Nhật Bản đã ký trong năm. Về mức thuế cụ thể thì hai bên đang còn phải tính toán thêm nhưng tôi có thể khẳng định rằng mức thuế không thấp hơn so với mức thuế mà chúng ta đã đạt được với Trung Quốc, Hàn Quốc...
Hàng nông sản của Việt Nam xuất sang Nhật Bản sẽ được hưởng mức giảm thuế cụ thể như thế nào, thưa Bộ trưởng?
Cơ hội để hàng nông sản của Việt Nam vào Nhật Bản được mở rộng hơn rất nhiều, chẳng hạn như rau quả, thủy sản. Trước đây, nhiều chủng loại hàng hoá này của Việt Nam chưa được nhập vào thị trường Nhật Bản hoặc nhập vào nước này với thuế suất cao thì nay được phép xuất khẩu vào Nhật Bản và với thuế suất thấp hơn. Hiện nay, cần phải cân đối mã số thuế cho tương thích với Nhật Bản rồi mới có thể công bố cụ thể khi Hiệp định được ký kết.
Thưa Bộ trưởng, việc chúng ta mở cửa hơn nữa cho sản phẩm công nghiệp của Nhật Bản liệu có kèm theo nguy cơ nhập siêu tăng mạnh từ Nhật Bản như đã từng xảy ra khi chúng ta tham gia các hiệp định song phương khác?
Đây là một vấn đề mà các cơ quan chức năng phải tính toán rất kỹ. Mặc dù, chúng ta đã đạt được thuận lợi là có thể tăng khả năng xuất khẩu hàng nông sản, dệt may sang Nhật nhưng ngược lại, chúng ta cũng phải chấp nhận một số sản phẩm công nghiệp của Nhật Bản vào Việt Nam.
Làm thế nào để chúng ta có thể khai thác được lợi thế này mà lại hạn chế được nhập siêu là một vấn đề đòi hỏi các bộ, các ngành, các địa phương phải tính toán. Tôi nghĩ rằng nó cũng nằm trong các giải pháp Chính phủ đã chỉ đạo các ngành, địa phương trong thời gian vừa qua, tăng cường xuất khẩu nhưng cũng hạn chế nhập khẩu để giảm nhập siêu.
Theo quan điểm của Bộ trưởng, các doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị gì để khai thác thị trường Nhật Bản tốt hơn khi hai nước ký kết Hiệp định EPA này?
Sau khi Hiệp định được ký kết, dự kiến vào cuối năm nay, doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ nội dung của Hiệp định. Bản thân lời văn trong Hiệp định không nhiều nhưng có rất nhiều phụ lục, bảng biểu đi theo, nhất là mã số thuế, mã số hàng hóa. Vì vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu rất kỹ.
Hơn nữa cũng phải nắm chắc các quy định của Nhật Bản liên quan đến xuất nhập khẩu để làm sao khi doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sang Nhật Bản không bị trả lại, không bị ảnh hưởng từ những quy định của Nhật Bản.
Một điểm nữa mà doanh nghiệp cũng phải lưu ý là cần xúc tiến mạnh mẽ hơn việc chủ động nghiên cứu, nắm bắt những cơ hội từ thị trường Nhật Bản để đến lúc Hiệp định được ký kết, doanh nghiệp đã chuẩn bị kỹ và nắm ngay được những cơ hội kinh doanh.
Vậy Bộ Công Thương đã có kế hoạch gì để tuyên truyền giúp cho doanh nghiệp tìm hiểu sâu hơn về thị trường Nhật Bản, thưa Bộ trưởng?
Bước tiếp theo sau khi kết thúc đàm phán là phải hoàn tất lời văn của hiệp định. Song song với đó, Bộ Công Thương sẽ phối hợp với các bộ, ngành để đưa ra chương trình phổ biến rộng rãi hiệp định, tổ chức hội thảo, tọa đàm cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có liên quan hiểu rõ hơn nội dung của hiệp định.




Chỉ còn chưa đầy 6 tháng trước khi Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) được thực thi đầy đủ. Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở tiêu chuẩn kỹ thuật mà ở tư duy, sự minh bạch và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, việc xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu chính xác là điều kiện tiên quyết để bảo vệ uy tín của ngành cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Nhân dịp hướng tới kỷ niệm 67 năm chuyến thăm Baku của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ngày Việt Nam tại Thủ đô Baku, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Shovgi Kamal Oglu Mehdizade, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Azerbaijan tại Việt Nam, về triển vọng hợp tác song phương cũng như vai trò của Azerbaijan trong việc kết nối logistics giữa Việt Nam với châu Âu.
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Thương mại Việt Nam – Đài Loan trong 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận sự bứt phá kỷ lục với sự dẫn dắt tuyệt đối từ nhóm hàng công nghệ cao. Tuy nhiên, để bảo vệ thành quả tăng trưởng và khai thác hiệu quả dư địa thị trường Đài Loan trong giai đoạn nửa cuối năm 2026 cũng như các năm tiếp theo, rất cần một sự chuẩn bị kỹ càng về chiến lược phát triển thị trường, xúc tiến thương mại phù hợp...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Trong lĩnh vực y tế, Việt Nam đã làm chủ công nghệ điều chế các chủng loại đồng vị và dược chất phóng xạ phục vụ y học hạt nhân. Khoa học hạt nhân nước ta đã phát triển các dược chất phóng xạ thế hệ mới để chẩn đoán và điều trị ung thư. Đây là những bước tiến vượt bậc trong nỗ lực đưa năng lượng nguyên tử vào phục vụ dân sinh.