
Trong báo cáo đánh giá thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2024, Mirae Asset nhấn mạnh thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, từ mức vốn hóa thị trường chỉ 20% GDP cuối năm 2011 lên khoảng 91% tính đến tháng 3/2022.
Tuy nhiên, sau đợt điều chỉnh mạnh, mức vốn hóa tính đến cuối năm 2022 chỉ ở mức khoảng 55%, tương đối thấp so với hầu hết các thị trường chứng khoán châu Á, cũng như mức của thế giới là 100%. Điều này cho thấy các công ty Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, thay vì huy động vốn cổ phần và trái phiếu.
Nhìn lại từ tháng 11/2022 đến tháng 1/2023, khi P/E của VN-Index ở mức thấp nhất 10 năm, khối ngoại đã mua ròng tổng giá trị lên tới 32,6 nghìn tỷ đồng. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể vẫn đang trong quá trình hiện thực hóa lợi nhuận trong bối cảnh chênh lệch lãi suất giữa Mỹ và Việt Nam cao và USD tăng giá so với VND.
Tính chung cả năm 2023, các nhà đầu tư nước ngoài đã bán 24,3 nghìn tỷ đồng, sau khi mua ròng 29,6 nghìn tỷ đồng trong năm 2022. Những “cơn gió ngược” từ việc Fed tăng lãi suất và sức mạnh đồng USD tăng đã giảm bớt gần đây, cũng như cho tầm nhìn sang năm 2024.
Theo đó, Mirae Asset kỳ vọng khoảng cách lợi suất giữa Mỹ và Việt Nam sẽ được thu hẹp, sau khi Fed cắt giảm lãi suất; do đó, dòng vốn đầu tư gián tiếp (FII) sẽ quay trở lại các thị trường khác ngoài Mỹ. Trong đó lưu ý rằng nỗ lực để được nâng hạng lên thị trường mới nổi (EM) là một điểm cộng.
Đối với ETF, Việt Nam đã thu hút được dòng vốn ETF vào ròng trong suốt giai đoạn 2017−2022. Đáng chú ý, vào năm 2022, mức định giá thấp đã thu hút các quỹ ETF giải ngân, đặc biệt là Fubon FTSE (519 triệu USD) và DCVFMVN Diamond (299 triệu USD). Tuy nhiên, năm 2023 đánh dấu năm đầu tiên dòng vốn ETF rút ròng, với áp lực chủ yếu đến từ DCVFMVN Diamond (136 triệu USD) và SSIAM VNFinlead (86 triệu USD).
Cá nhân trong nước chuyển sang mua ròng 26,3 nghìn tỷ đồng trong năm 2023 trong khi năm 2022 bán ròng 16,5 nghìn tỷ đồng do lãi suất huy động giảm đáng kể. Các cá nhân trong nước vốn chiếm trên 80% giá trị giao dịch bình quân mỗi ngày sẽ vẫn đóng vai trò chính. Các cá nhân trong nước đã mở trung bình khoảng 107 nghìn tài khoản mới mỗi tháng vào năm 2023. Các nhà đầu tư này cũng đặt kỳ vọng cao vào việc triển khai hệ thống KRX trong tương lai.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã hồi phục kể từ tháng 11/2022, đưa mức định giá P/E của VN-Index từ 11x lên 17,1x vào đầu tháng 9/2023. Sau khi P/E giằng co quanh ngưỡng 17x (tức là VN-Index quanh mức 1.250 điểm), thị trường đã trải qua đợt bán tháo kéo dài từ tháng 9 đến tháng 10/2023 (điều chỉnh 18,3% so với mức đỉnh năm 2023).
Với mức lạm phát ở Mỹ được công bố thấp hơn thị trường kỳ vọng, tâm lý thị trường toàn cầu đã cải thiện theo kỳ vọng Fed cắt giảm lãi suất trong năm 2024. Kết quả là cả chỉ số DXY và lợi suất trái phiếu 10 năm của Mỹ đều giảm trong tháng 11 và tháng 12/2023. Trong bối cảnh đó, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng hồi phục trở lại trong tháng 11 và tháng 12, với VN-Index đóng cửa năm 2023 ở mức 1.130 điểm.
Mirae Asset duy trì kỳ vọng P/E của thị trường sẽ tăng lên từ mức 15x hiện tại lên mức trung bình lịch sử là 16−17x; tại đó, mức định giá của Việt Nam sẽ ngang bằng với trung vị các thị trường chứng khoán khác trên thế giới. Nhờ lãi suất cho vay giảm và các chính sách hỗ trợ, kỳ vọng đầu tư, sản xuất và tiêu dùng sẽ phục hồi hơn nữa. Nhờ đó, tăng trưởng EPS ở hầu hết các ngành dự kiến sẽ tăng vào năm 2024, so với mức kỳ vọng giảm 4% YoY trong năm 2023.
Trong kịch bản mức độ hồi phục của nền kinh tế như năm 2023, EPS 2024 tăng trưởng 0%, VN-Index tương ứng tại mức định giá trung bình dài hạn sẽ ở vùng điểm 1.250. Tại kịch bản nền kinh tế phục hồi mạnh và EPS 2024 tăng trưởng 13%, chỉ số VN-Index có thể giao dịch tại vùng 1.400 điểm và nếu nền kinh tế tăng trưởng rất mạnh với EPS tăng 19,6%, VN-Index có thể chạm mốc 1.500 điểm.
Tuy nhiên, điểm cần lưu ý là EPS từ hoạt động kinh doanh liên tục của các công ty niêm yết đã bị thấp hơn đáng kể so với mức EPS tổng thể kể từ khi xảy ra dịch COVID-19. Điều này cho thấy các công ty trở nên dễ bị tác động nặng nề hơn so với trước thời điểm xảy ra dịch COVID trước những cơn gió ngược toàn cầu hay có bất kỳ thay đổi nào mang tính trọng yếu.
Tuy vậy, vẫn còn một số rủi ro như sự không chắc chắn về thời gian và quy mô cắt giảm lãi suất của Fed trong năm 2024; tác động của lãi suất toàn cầu cao đối với việc đảo nợ, hoạt động kinh doanh, tiêu dùng; hậu quả ngày càng lan rộng từ khủng hoảng bất động sản Trung Quốc; rủi ro địa chính trị.




Nhịp tăng mạnh tuần trước đã đưa VN-Index đối diện vùng kháng cự kỹ thuật. Áp lực bán sáng nay chưa tăng mạnh nhưng dòng tiền bắt đầu thoái lui chờ đợi diễn biến điều chỉnh.
Tín hiệu "lãi suất đạt đỉnh – chứng khoán tạo đáy" đang tạo lập bệ đỡ vững chắc cho dòng tiền nội tự tin giải ngân.
Các nhà đầu tư đã dành sự quan tâm lớn quyết định xếp hạng này của Moody’s trong lúc Pháp chao đảo vì các cuộc biểu tình và sự gia tăng đột biến của lợi suất trái phiếu chính phủ...
Chứng khoán Rồng Việt kỳ vọng Công văn 9608/NHNN-CSTT sẽ có các tác động làm lãi suất huy động giảm nhanh trong ngắn hạn và ổn định đến cuối năm, nhưng khó giảm sâu trong năm 2027 do thâm hụt huy động so với tín dụng vẫn lớn.
VN-Index kết thúc tuần 43/2026 tại 1.774,15 điểm, tăng 68,24 điểm (+4,00%) so với tuần trước, chấm dứt chuỗi 5 tuần giảm liên tiếp, với thanh khoản cải thiện nhẹ.
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.