Ngày 18/10/2026 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Công văn 9608/NHNN-CSTT, yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm với kỳ hạn từ 6 tháng và giảm lãi suất cho vay 1,5–2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, đồng thời siết chặt kỷ luật tín dụng và quản trị rủi ro. Công văn có hiệu lực kể từ thời điểm ban hành.
Điểm khác biệt so với các chỉ đạo trước là chế tài cụ thể. Tổ chức tín dụng không tuân thủ có thể bị xem xét lại chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng còn lại của năm 2026, bị giao chỉ tiêu thấp năm 2027 hoặc phải áp dụng tỷ lệ an toàn cao hơn quy định.
Các ngân hàng phản ứng nhanh, chỉ trong hai ngày 19–20/10, ít nhất 19 ngân hàng đã giảm lãi suất huy động, phổ biến 0,5 điểm %/năm.
Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) đánh giá Công văn 9608 sẽ có tác động thực chất hơn các phát biểu chỉ đạo trước đây của Thống đốc, đặc biệt về vấn đề giảm lãi suất.
Lần này, chế tài đã được quy định rõ bằng văn bản và gắn trực tiếp với hạn mức tăng trưởng tín dụng năm 2026–2027, tạo động lực mạnh để các tổ chức tín dụng tuân thủ. VDSC giữ quan điểm thận trọng với ngành ngân hàng trong ngắn hạn và ưu tiên các ngân hàng có tỷ lệ CASA cao, tỷ lệ bao phủ nợ xấu dày và ít phụ thuộc vào nghiệp vụ mua hẳn L/C.
Theo đó, VDSC kỳ vọng Công văn 9608/NHNN-CSTT sẽ có các tác động chính như sau: Lãi suất huy động giảm nhanh trong ngắn hạn và ổn định đến cuối năm, nhưng khó giảm sâu trong năm 2027 do thâm hụt huy động so với tín dụng vẫn lớn.
Từ nay đến cuối năm, VDSC kỳ vọng lãi suất huy động đi ngang, hoặc ít nhất không tăng trở lại, vì hai lý do. Thứ nhất, việc đua tăng lãi suất đã bị kiểm soát chặt hơn và gắn với chế tài về room tín dụng.
Thứ hai, room tín dụng còn lại không nhiều: phần lớn Ngân hàng TMCP quy mô lớn, trừ nhóm nhận chuyển giao bắt buộc, đã ở sát trần, và nhiều ngân hàng vượt hạn mức khi tính thêm số dư mua hẳn L/C. Điều này làm giảm nhu cầu tăng huy động để đáp ứng thanh khoản. Tuy vậy, kỳ vọng lãi suất giảm sâu hơn mức chỉ đạo trong năm 2027 là chưa thực tế.
Nhu cầu vốn trung- dài hạn của nền kinh tế còn lớn, trong khi quy mô huy động vẫn thấp hơn tín dụng. Đến ngày 14/10/2026, tăng trưởng huy động đã cải thiện lên 11,22%, bám sát tín dụng (11,44%), giúp chênh lệch quy mô thu hẹp từ mức đỉnh khoảng 2,80 triệu tỷ đồng giữa năm xuống khoảng 2,35 triệu tỷ đồng.
Dù vậy, khoảng chênh lệch này vẫn tương đương mức đầu năm 2026 và gấp đôi đầu năm 2025, cho thấy áp lực cấu trúc lên chi phí vốn của hệ thống ngân hàng chưa được giải quyết.
Biên lãi ròng chịu áp lực trong ngắn hạn và phân hóa giữa các ngân hàng. Mức giảm lãi suất cho vay theo yêu cầu (1,5–2%) lớn hơn nhiều so với mức giảm huy động (tối thiểu 0,5%). Theo phát biểu của Thống đốc tại cuộc họp với các tổ chức tín dụng ngày 19/10, việc giảm lãi suất cần được xem xét cho cả dư nợ hiện hữu lẫn khoản vay mới, trong khi chi phí vốn chỉ giảm dần khi tiền gửi cũ đáo hạn.
Trên toàn hệ thống, các ngành sản xuất, kinh doanh (ngoài bất động sản và hoạt động khác) chiếm khoảng 55% dư nợ, nên về lý thuyết phạm vi chịu tác động là lớn. Tuy nhiên, các ngân hàng đang giảm lãi suất chủ yếu qua các gói tín dụng có hạn mức và thời hạn (BID khoảng 100.000 tỷ đồng, Sacombank tối đa 40.000 tỷ đồng, MSB 10.000 tỷ đồng).
Phần dư nợ thực sự được giảm 1,5–2% vì vậy có thể thấp hơn nhiều, và tác động cuối cùng lên NIM toàn ngành chưa thể lượng hóa rõ.
Ở từng ngân hàng, áp lực có thể tập trung ở nhóm có tỷ trọng cho vay sản xuất kinh doanh cao như CTG (66%), MBB (57%), VCB (56%) và BID (51%). Ngược lại, TCB, VPB, VIB và ACB có tỷ trọng dưới 30% nên ít chịu ảnh hưởng hơn về lý thuyết.
Trong nhóm chịu áp lực, VCB và MBB có lợi thế CASA cao và chi phí vốn thấp để hấp thụ một phần tác động.
Tác động lên chi phí tín dụng chưa rõ ràng; kênh đáng chú ý hơn là lãi dự thu và chia cổ tức. Các yêu cầu về phân loại nợ, trích lập dự phòng và không che giấu nợ xấu phần lớn nhắc lại quy định hiện hành, chưa đưa ra chuẩn mực hay lộ trình mới. Vì vậy, VDSC không kỳ vọng bản thân công văn tạo ra một đợt tăng trích lập dự phòng đột biến. Nếu chi phí tín dụng tăng trong các quý tới, cũng khó tách bạch phần đến từ yêu cầu ghi nhận rủi ro chặt hơn với phần đến từ khả năng trả nợ suy yếu của khách hàng.
Dù vậy, bộ đệm dự phòng sẽ quyết định ngân hàng nào chịu tác động nhiều hơn nếu nợ xấu tiếp tục tăng. VCB (LLR 279%), CTG (134%) và TCB (126%) có bộ đệm dày, trong khi EIB (33%), VIB (44%), HDB (50%) và MSB (52%) có dư địa thấp hơn; STB có tỷ lệ nợ xấu cao nhất nhóm (7,5%).
Kênh tác động trực tiếp và đo lường được hơn là yêu cầu kiểm soát lãi dự thu và chia cổ tức. MSB, NAB và SHB có tỷ lệ lãi dự thu trên tài sản sinh lãi cao nhất nhóm (2,1–3,0%), với số ngày phải thu lãi bình quân 82–143 ngày, gấp 3–5 lần VCB (28 ngày). Nếu phải thoái bớt các khoản lãi dự thu kéo dài, nhóm này có thể ghi nhận thu nhập lãi thấp hơn, đồng thời kế hoạch chia cổ tức có thể bị xem xét kỹ hơn.
Tăng trưởng tín dụng phân hóa khi số dư mua hẳn L/C được tính vào hạn mức. Trước đây, nghiệp vụ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo L/C do chính ngân hàng phát hành không bị tính vào room tín dụng và trở thành kênh mở rộng dư nợ của một số ngân hàng.
Theo số liệu cuối Q2/206, quy mô lớn nhất thuộc về SHB (khoảng 75.500 tỷ đồng), tiếp theo là TCB (khoảng 26.200 tỷ đồng), HDB và MBB (khoảng 16.000 tỷ đồng mỗi ngân hàng). Khi cộng phần này vào tăng trưởng tín dụng 6T/2026, một số ngân hàng đã vượt hạn mức năm 2026: SHB lên khoảng 19,4% so với room 10,5%, TPB khoảng 13,7% so với 11,0% và TCB khoảng 15,0% so với 12,0% (với TCB, đã loại trừ dư nợ cấp cho các dự án thuộc danh mục 18 dự án hạ tầng quốc gia, quy mô khoảng 20.000 tỷ đồng). NAB (khoảng 10,7% so với 10,5%) vượt nhẹ.
VDSC cho rằng nhóm này sẽ phải giảm tốc giải ngân hoặc thu hẹp nghiệp vụ mua hẳn L/C trong quý IV/2026, ảnh hưởng đáng kể tới tăng trưởng thu nhập lãi và thu nhập phí từ nghiệp vụ thư tín dụng. Đây cũng là nhóm cần tuân thủ chặt nhất chỉ đạo lãi suất, vì vi phạm có thể dẫn đến room năm 2027 thấp hơn.
Ngược lại, ba ngân hàng quốc doanh (tăng trưởng khoảng 5% YTD so với room 10,6–13,0%) và nhóm nhận chuyển giao bắt buộc (MBB, VPB, HDB, room 35%) còn dư địa lớn và có thể gia tăng thị phần cho vay trong những tháng cuối năm.
VN-Index kết thúc tuần 43/2026 tại 1.774,15 điểm, tăng 68,24 điểm (+4,00%) so với tuần trước, chấm dứt chuỗi 5 tuần giảm liên tiếp, với thanh khoản cải thiện nhẹ.
Giá vàng đang chịu tác động giằng co từ một bên là các nhà giao dịch đầu cơ ngắn hạn muốn tận dụng đà giảm giá để bán khống và một bên là các nhà đầu tư dài hạn vẫn duy trì nhu cầu cơ bản mạnh mẽ...
Thị trường kết thúc chuỗi 4 tuần giảm liên tiếp bằng diễn biến bất ngờ ngày 21/10 khi VN-Index đột ngột đảo chiều tăng mạnh kỷ lục kể từ đầu tháng 4/2026. Chỉ số tăng 2,8% tương đương 46,7 điểm, tạo thêm dư địa lớn cho mốc đáy ngắn hạn vừa đạt được.
VnEconomy giới thiệu nhận định và khuyến nghị đầu tư của một số công ty chứng khoán về diễn biến thị trường tuần từ 26-30/10/2026.
Nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng. Giá trị mua đạt 1.807,54 tỷ đồng, trong khi giá trị bán lên tới 2.287,58 tỷ đồng, tương ứng bán ròng 480,04 tỷ đồng.
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.