Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung vừa báo cáo về tình hình lao động mất việc trước phiên chất vấn tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XV.
Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết trong những tháng đầu năm 2023, thị trường lao động của các nước đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, rủi ro tác động đến nhiều ngành, lĩnh vực. Theo báo cáo xu hướng triển vọng việc làm và xã hội thế giới 2023 của Tổ chức Lao động quốc tế, thì năm 2023 hầu hết các quốc gia sẽ không thể phục hồi hoàn toàn về mức trước đại dịch, việc làm toàn cầu được dự báo chỉ tăng 1%, giảm đáng kể so với tốc độ tăng việc làm 2,3% năm 2022.
Tại Việt Nam, những tháng đầu năm 2023, số doanh nghiệp gặp khó khăn phải cắt giảm lao động là hơn 8.600 doanh nghiệp (chiếm 1% tổng số doanh nghiệp), trong đó, 27,4% là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; 72,18% doanh nghiệp ngoài nhà nước; 0,39% doanh nghiệp nhà nước.
Xét theo vùng, có 66,75% doanh nghiệp thuộc vùng Đông Nam Bộ; 12,4% doanh nghiệp thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng; 7,75% doanh nghiệp thuộc vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung; còn lại rải rác ở các tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên và miền núi phía Bắc. Doanh nghiệp gặp khó khăn là những doanh nghiệp thuộc ngành dệt may, da giày, chế biến gỗ, sản xuất, lắp ráp linh kiện điện tử,…
Những tháng đầu năm, số lao động trong doanh nghiệp bị ảnh hưởng việc làm là 509.903 người (khoảng 3,4% tổng số lao động trong doanh nghiệp), trong đó, số lao động thôi việc, mất việc làm là 279.409 người (chiếm 54,79% lao động bị ảnh hưởng). Nhóm lao động ngành dệt may bị ảnh hưởng lớn nhất với hơn 68.700 người, da giày 31.653 người, sản xuất linh kiện và sản phẩm điện tử là 45.075 người.
Số lao động thôi việc, mất việc tập trung ở các tỉnh có khu công nghiệp, khu kinh tế lớn như Bình Dương (71.590 người), Đồng Nai (32.450 người), TP.HCM (44.890 người), Bắc Giang (27.500 người), Bắc Ninh (13.990 người), Hải Dương (16.020 người), Hà Nội (46.860 người).
Số lao động giảm giờ làm là 195.039 người (chiếm 38,25% lao động bị ảnh hưởng); trong đó lao động ngành dệt may là 66.641 người, ngành da giày là 66.133 người, ngành sản xuất linh kiện và sản phẩm điện tử là 24.848 người, ngành chế biến thủy, hải sản là 5.939 người, ngành chế biến gỗ và sản xuất các sản phẩm từ gỗ là 5.450 người.
Ngoài ra, có hơn 17.000 lao động bị ngừng việc, nghỉ việc không lương (chiếm 3,33% lao động bị ảnh hưởng); trong đó lao động ngành dệt may là 4.938 người, ngành sản xuất linh kiện và sản phẩm điện tử là 2.243 người, ngành chế biến thủy, hải sản là 3.138 người, ngành chế biến gỗ và sản xuất các sản phẩm từ gỗ là 2.232 người. Số lao động tạm hoãn hợp đồng lao động là 8.346 người (chiếm 1,64% lao động bị ảnh hưởng), trong đó nhiều nhất là lao động ngành dệt may là 3.826 người.
Nhóm lao động chưa qua đào tạo (chưa có bằng cấp, chứng chỉ) bị thôi việc, mất việc nhiều nhất với tỷ lệ 68%. Đáng chú ý, lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất thôi việc, mất việc nhiều nhất (49% số lao động nộp hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp là từ các khu công nghiệp, khu chế xuất).
Nói về nguyên nhân của việc cắt giảm lao động, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cho biết, các doanh nghiệp thiếu đơn hàng do kinh tế các nước gặp khó khăn, lạm phát cao, chính sách tiền tệ thắt chặt nên sức mua sụt giảm, đặc biệt là nhu cầu về các mặt hàng thời trang quần áo, giày dép, thiết bị điện tử cá nhân,… khiến nhiều doanh nghiệp trong nước gặp tình trạng hàng tồn kho nhiều không xuất được, không có đơn hàng mới.
Cùng với đó, chi phí sản xuất tăng cao khiến nhiều doanh nghiệp Việt Nam không thể cạnh tranh được. Một số thị trường lớn của Việt Nam đặt ra yêu cầu mới về tiêu chuẩn hàng hóa và có sự thay đổi quan điểm thị hiếu của người tiêu dùng nên các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn để tổ chức, sắp xếp lại hoạt động sản xuất, trong khi đó sau thời gian ứng phó với đại dịch Covid-19 nguồn lực tài chính của các doanh nghiệp không còn đủ để thực hiện.
“Đánh giá chung, việc cắt giảm lao động trong các doanh nghiệp hiện nay chủ yếu là vì lý do kinh tế, khó khăn ở việc tìm kiếm, phát triển thị trường nước ngoài, doanh nghiệp gặp khó khăn tập trung vào doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo ở một số ngành như dệt may, da giày, sản xuất và lắp ráp linh kiện điện tử, chế biến gỗ”, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung nhìn nhận.
Từ thực tế trên, nêu các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong tạo việc làm cho người lao động hiện nay, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung thông tin, Bộ sẽ tiếp tục triển khai các giải pháp đẩy mạnh công tác dự báo nhu cầu sử dụng lao động, nhu cầu đào tạo nghề nghiệp của doanh nghiệp về số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề, trình độ của lao động trong các doanh nghiệp.
Thực hiện các giải pháp để thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh. Các giải pháp cần tập trung vào hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường, tìm kiếm đơn hàng mới, giảm chi phí sản xuất, kinh doanh thông qua việc giảm lãi suất vay, hỗ trợ giảm thuế, giảm các khoản phí, lệ phí phải đóng...
Bên cạnh đó, cũng nâng cao vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp, trong đó đẩy mạnh tư, giới thiệu việc làm để người lao động quay trở lại thị trường lao động.
Trước đó, ông Vũ Trọng Bình, Cục trưởng Cục Việc làm (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội) đã từng nhận định thời gian qua, chính sách Bảo hiểm thất nghiệp đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đặc biệt, khi xảy ra đại dịch Covid-19, thị trường lao động biến động mạnh với những rủi ro đột biến, chính sách Bảo hiểm thất nghiệp đã đóng vai trò nổi bật trong việc hỗ trợ người lao động bị mất việc làm ổn định cuộc sống trước mắt. Hơn 10 năm qua, chính sách bảo hiểm thất nghiệp của Việt Nam đã làm tốt việc chi trả, hỗ trợ người lao động quay trở lại thị trường lao động, nhưng để đáp ứng được yêu cầu đề ra vẫn còn nhiều việc phải làm.
Thực trạng việc làm cho người lao động và giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tạo việc làm cho người lao động trong giai đoạn hiện nay cũng là một trong những nội dung trong nhóm vấn đề thuộc lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội sẽ được Bộ trưởng Đào Ngọc Dung trả lời trong phiên chất vấn dự kiến sáng 6/6.
Cùng với nội dung trên, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cũng sẽ trả lời về các vấn đề liên quan đến giải pháp khắc phục bất cập, hạn chế trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội (doanh nghiệp trốn đóng, chiếm dụng, nợ tiền bảo hiểm xã hội, tình trạng cấu kết, lập khống, làm giả hồ sơ hưởng chế độ bảo hiểm, chi sai chế độ…); công tác quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội; giải pháp khắc phục tình trạng người lao động rút bảo hiểm xã hội một lần có xu hướng gia tăng…
Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà, Bộ trưởng các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Giáo dục và Đào tạo, Nội vụ cùng tham gia trả lời chất vấn, giải trình về những vấn đề có liên quan.




Các thủ tục được thiết kế theo hướng tăng cường sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm, dữ liệu cư trú, hộ tịch điện tử, khám bệnh chữa bệnh và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành liên quan...
Trong vụ án này, Viện kiểm sát xác định bị cáo Phó Đức Nam giữ vai trò chủ mưu, chịu trách nhiệm với 919 vụ với số tiền chiếm đoạt là hơn 1.559 tỷ đồng. Phiên tòa dự kiến kéo dài trong 15 ngày...
Mô hình “Bản sáng vùng biên” đã nâng cao đời sống người dân Yên Khương qua những tuyến đèn đường, mái nhà sửa chữa và học sinh được tiếp sức đến trường. Qua đó, Bộ đội Biên phòng không chỉ bảo vệ vững chắc biên cương mà còn đồng hành cùng dân phát triển kinh tế, củng cố tình đoàn kết nơi “phên dậu” Tổ quốc...
Nhằm giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực trầm trọng cho các công trình trọng điểm Thủ đô, ngày 31/10/2026, Hà Nội sẽ tổ chức Phiên giao dịch việc làm chuyên đề xây dựng – cơ khí – giao thông. Sự kiện quy tụ 32 doanh nghiệp lớn với hơn 8.000 vị trí việc làm hấp dẫn, mở ra cơ hội việc làm và phỏng vấn trực tiếp ngay tại chỗ cho người lao động...
Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội đề nghị quy định rõ trách nhiệm pháp lý của chủ đầu tư, chủ sở hữu, người đứng đầu cơ sở, hộ gia đình và chủ phương tiện giao thông trong việc tuân thủ thiết kế ban đầu về phòng cháy, chữa cháy; cũng như duy trì các điều kiện an toàn so với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.