Hỏi chuyện ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) về triển vọng xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ thời gian tới.
Thưa ông, nhiều ý kiến lo ngại nền kinh tế Mỹ đang suy thoái và dệt may Việt Nam sẽ khó xuất khẩu vào nước này. Liệu mối lo này có trở thành hiện thực?
Nền kinh tế Mỹ và một số nước phát triển trên thế giới đang gặp khó khăn. Theo dự đoán của nhiều nhà kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ sẽ chậm lại từ 1 - 2%/năm. Phải thấy rằng, 1% GDP của Mỹ ước khoảng 130 tỷ USD, gấp đôi GDP của Việt Nam mỗi năm. Điều này sẽ ảnh hưởng đến sức mua và khả năng nhập khẩu hàng hóa nói chung của thị trường Mỹ, nhất là đối với hàng dệt may.
Hiện nay, Mỹ đang có giải pháp khôi phục nền kinh tế và chúng ta đang hy vọng họ làm được điều này. Bởi lẽ, nếu kinh tế Mỹ tiếp tục suy thoái thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến khả năng nhập khẩu của họ.
Tuy nhiên, phải thấy rằng, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ chỉ chiếm 4,74% tổng khối lượng hàng may mặc nhập khẩu vào nước này. Vì thế, sự suy thoái đó có diễn ra thì Việt Nam vẫn còn nhiều cơ hội để tăng thị phần nếu các doanh nghiệp của ta năng động.
Hiện nay đã hết thời gian Mỹ thực hiện cơ chế giám sát hàng dệt may Việt Nam lần hai. Họ có tiếp tục duy trì cơ chế này?
Theo tuyên bố của các cơ quan chức năng Mỹ, nước này tiếp tục duy trì cơ chế giám sát hàng dệt may Việt Nam cho đến cuối năm 2008. Vì thế, hàng dệt may Việt Nam vẫn phải chịu sự giám sát 6 tháng/lần từ phía Chính phủ Mỹ, tập trung vào hai nội dung: có bán phá giá và có được trợ cấp của Chính phủ Việt Nam trái với nguyên tắc WTO hay không?
Để làm rõ được điều này, Mỹ sẽ dựa vào sự suy giảm về đơn giá nhập khẩu so với thời kỳ trước, để họ xem xét và quyết định có điều tra hay không. Đây là một thiệt thòi lớn cho dệt may Việt Nam vì các nhà nhập khẩu Mỹ e ngại rủi ro do có thể bị điều tra và áp mức thuế chống bán phá giá.
Tuy nhiên, qua đợt điều tra lần 1 (6 tháng đầu 2007 và công bố vào tháng 10/2007), Bộ Thương mại Mỹ khẳng định: chưa phát hiện một dấu hiệu nào cho thấy hàng dệt may Việt Nam bán phá giá. Điều này có thể làm các nhà nhập khẩu Mỹ yên tâm hơn.
Hiện tại, phía Mỹ chưa công bố kết quả giám sát lần hai nhưng Vitas đã tự theo dõi và đánh giá số liệu và thấy rằng: thứ nhất, năm 2007 so với 2006 thì: giá trị đạt: 4.557.000.000 triệu USD, tăng 34%; số lượng: 1.506.000.000 triệu m2 sản phẩm quy đổi, tăng 31%; đơn giá bình quân: 3,03 USD/m2 sản phẩm, tăng 2,3%.
Đánh giá chung, đơn giá hàng dệt may vào Hoa Kỳ tăng chứ không giảm.
Qua quá trình tự theo dõi, có sự khác biệt nào giữa đơn giá bình quân hàng dệt may Việt Nam so với sản phẩm các nước khác khi cùng xuất khẩu vào Mỹ?
So với đơn giá bình quân hàng dệt may của toàn thế giới xuất khẩu vào Mỹ là 1,82 USD/m2, cụ thể: Trung Quốc: 1,51 USD/m2; Indonesia: 2,59 USD/m2; Thái Lan là 2,13 USD/m2, Bangladesh: 2,15 USD/m2 và Ấn Độ: 1,87 USD/m2... thì với đơn giá bình quân hàng dệt may Việt Nam chỉ 3,03 USD/m2 là cao hơn những nước khác.
Giá bán cao hơn thì không thể nói là bán phá giá. Chưa kể, đối với những cat nhạy cảm đang đặt dưới sự giám sát thì hầu hết chúng đều có mức tăng/giảm nằm trong dung sai bình thường (trên dưới 10%), ngoại trừ một vài nhóm như cat 341, 352, 646, 648... có mức giảm giá trên 10%.
Mỹ kéo dài cơ chế trên, các doanh nghiệp sẽ rất mệt mỏi vì phải tự giám sát, chưa kể thiệt hại vì doanh số không tăng trưởng. Không lẽ Vitas cứ thụ động ngồi chờ phán quyết của Mỹ một cách vô hạn định?
Phải hiểu một thực tế rằng, khi rào cản hạn ngạch bị dỡ bỏ thì các nước nhập khẩu lớn như Mỹ hay châu Âu thường dựng lên những rào cản thương mại như về vấn đề môi trường, lao động và đặc biệt là chống bán phá giá để ngăn cản làn sóng nhập khẩu.
Kể từ năm 2007, khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, ngành dệt may không bị áp dụng cơ chế hạn ngạch thì lập tức gặp rào cản giám sát chống bán phá giá. Để đối phó với cơ chế này, một mặt, Vitas chủ động giám sát tại Việt Nam, lành mạnh hóa vấn sách chứng từ để chứng minh chúng ta sản xuất và bán hàng trên giá thành của chúng ta và không nhận bất cứ trợ cấp nào từ phía Chính phủ.
Đồng thời, Vitas đã xác định một hướng đi mới là kiên trì tiếp cận với chính quyền và Hiệp hội Dệt may Mỹ, vận động, giải thích để họ hiểu thực chất vấn đề.
Để làm được điều này, dứt khoát phải có kinh phí. Trong năm 2007, Vitas đã tổ chức nhiều cuộc họp với các doanh nghiệp thành viên và đi đến thống nhất, mỗi doanh nghiệp tự nguyện đóng góp 0,01% kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ để lấy kinh phí trang trải cho hoạt động vận động, giải thích với phía Mỹ.
Dự kiến, năm nay sẽ thu được khoảng 300 nghìn USD để trang trải cho hoạt động nói trên của năm 2007 và 2008.
Việc thu phí này có trái với qui định quốc tế không? Hiệp hội sẽ thu và sẽ sử dụng như thế nào?
Tôi khẳng định rằng đây là khoản tự nguyện đóng góp của doanh nghiệp cho Hiệp hội để Hiệp hội thực hiện các họat động cần thiệt chống lại các rào cản thương mại nhằm hổ trợ cho xuất khẩu của doanh nghiệp được thuận lợi hơn vì lợi ích của doanh nghiệp và của toàn ngành. Việc thu khoản đóng góp này không trái với thông lệ quốc tế .
Hiệp hội đã có hợp đồng nhờ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thu hộ cùng lúc với việc cấp C/O các lô hàng xuất khẩu vào Mỹ. Việc thu sẽ thực hiện mỗi tháng một lần căn cứ vào tổng giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp trong tháng. Sở dĩ thu hàng tháng thay vì thu theo từng lô hàng là để giảm bớt thủ tục và thời gian thực hiện.
Mọi việc thu và chi quỹ này sẽ được thực hiện theo quy chế công khai đã gởi cho các doanh nghiệp. Số tiền thu được chuyển vào tài khoản riêng chỉ để phục vụ cho họat động chống các rào cản thương mại. Các khoản chi đều do Chủ tịch Hiệp hội quyết định và được giám sát bởi tổ giám sát bao gồm đại diện doanh nghiệp và cơ quan giám sát của Nhà nước.
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Dù kim ngạch xuất khẩu cao, cà phê Robusta Việt Nam vẫn chủ yếu được biết đến như nguồn nguyên liệu cho các nhà rang xay quốc tế. Để thoát vai “làm nền”, ngành cà phê cần thu hẹp khoảng trống về thương hiệu, nâng cao giá trị chế biến và tăng cường liên kết trong chuỗi cung ứng…
Với tỷ trọng xuất khẩu qua thương mại điện tử năm 2025 mới chỉ đạt 0,48% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, dư địa phát triển xuất khẩu qua kênh này còn rất lớn. Nhưng nghịch lý, số doanh nghiệp đầu tư bài bản cho xuất khẩu xuyên biên giới rất ít, còn thiếu tự tin…
Việc Malaysia công nhận 5 tổ chức, doanh nghiệp cấp chứng nhận Halal của Việt Nam mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa trong nước tiếp cận thị trường này, đồng thời thâm nhập sâu vào chuỗi cung ứng Hồi giáo toàn cầu...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.