
Sáu tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam đạt gần 4,2 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2007.
Nhưng liệu cả năm nay, kim ngạch của ngành dệt may có đạt được 9,5 tỷ USD như kế hoạch đề ra? VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam, kiêm Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam xung quanh vấn đề này.
Với những khó khăn chung của nền kinh tế, kết quả 6 tháng đầu năm của ngành dệt may quả là một con số ấn tượng. Vậy kim ngạch 5,3 tỷ trong sáu tháng cuối năm có phải là con số trong tầm tay?
Đúng là hiện nay, các hợp đồng về dệt may tương đối dồi dào. Nhưng ngoài những khó khăn chung mà tất cả các doanh nghiệp đang gặp phải, ngành dệt may còn có những đặc thù riêng.
Đó là trên 50% giá trị kim ngạch xuất khẩu là từ thị trường Mỹ. Điều này đã khiến một số khách hàng lớn ở quốc gia này có tâm lý lo ngại sản phẩm này của Việt Nam sẽ bị điều tra và áp thuế chống bán phá giá.
Tiếp đến, hiện toàn ngành đang phải đối mặt với sự biến động về lao động. Tình trạng đình công đang diễn ra khá phổ biến cũng làm cho những khách hàng lớn không thực sự yên tâm.
Ông vừa đề cập tới tình trạng thiếu lao động và tình trạng lao động đình công. Phải chăng đời sống của họ chưa được quan tâm đúng mức?
Dệt may là ngành cần có số lượng công nhân rất lớn. Bản thân những người sử dụng lao động, hơn ai hết họ đều muốn giữ chân công nhân để đảm bảo năng suất. Nhưng, hiện nay do phương thức giải quyết khi xảy ra đình công chưa thực sự hiệu quả, vô hình chung càng khuyến khích lao động đình công không theo luật.
Đình công là biện pháp cuối cùng để giải quyết vấn đề. Trong khi đó ở nhiều nơi, người lao động lại sử dụng công cụ này để gây sức ép buộc các bên phải ngồi lại với nhau. Bên cạnh đó, cũng có một số phần tử xấu đã ngăn cản những công nhân khác tiếp tục đi làm.
Như vậy, dường như mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 9,5 tỷ USD trong năm 2008 là một con số khó hoàn thành?
Có thể nói vẫn có thể hoàn thành được, nhưng đòi hỏi phải có sự nỗ lực của tất cả các đơn vị có liên quan. Nhưng cũng rất có thể kim ngạch năm nay chỉ đạt khoảng 9 tỷ USD, thậm chí là dưới 9 tỷ.
Thực tế quý 1 vừa qua, tốc độ phát triển của ngành lên tới 24% nhưng sang đến quý 2 con số này đã không được duy trì. Vì vậy, tổng kết sáu tháng đầu năm tốc độ tăng trưởng chung chỉ còn 20%. Tình hình sản xuất kinh doanh trong quý 3 cũng còn nhiều khó khăn, hy vọng sang đến quý 4, toàn ngành sẽ có sự khởi sắc hơn.
Hiện có nhiều ý kiến cho rằng, năng lực quản lý trong ngành dệt may chưa cao, dẫn đến năng suất lao động thấp? Ông đánh giá sao về điều này?
Đúng là trung bình một công lao động của công nhân Việt Nam chỉ may được khoảng 12 áo sơ mi.
Trong khi đó, tại các nước và vùng lãnh thổ như Hồng Kông, Nhật Bản con số này là 25 - 30 áo. Ở Việt Nam công nhân dệt chỉ đứng được khoảng 8 máy nhưng ở Đài Loan, một lao động có thể vận hành từ 30-60 máy.
Bên cạnh đó, về hạ tầng cơ sở của chúng ta còn có nhiều yếu kém dẫn tới vận chuyển hàng hóa không chỉ mất nhiều thời gian mà chi phí còn cao hơn hẳn các nước khác. Nhưng về trình độ tay nghề, công nhân Việt Nam lại có phần nổi trội hơn hẳn.
Hiện nay, về cơ bản trên thế giới chỉ còn hai khu vực phát triển ngành dệt may đó là châu Á và châu Phi. Nhưng châu Phi lại chưa thực sự mạnh nên châu Á vẫn là nơi phục vụ nhu cầu may mặc của toàn thế giới.
Trong khi đó, trong chiến lược phát triển, Trung Quốc sẽ không tiếp tục đầu tư mở rộng ngành dệt may. Vì vậy, cơ hội trong tương lai của ngành dệt may Việt Nam là khá lớn. Ngành dệt may Việt Nam sẽ còn phát triển trong ít nhất là 20 năm tới. Tuy nhiên, tốc độ phát triển như thế nào còn phụ thuộc rất nhiều vào từng doanh nghiệp.
Gỗ và sản phẩm gỗ là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, những vướng mắc trong xác định nguồn gốc gỗ rừng trồng nhập khẩu, phân loại gỗ sơ chế và xử lý thuế VAT đang khiến doanh nghiệp phát sinh chi phí, tồn đọng vốn và gặp khó trong kế hoạch sản xuất...
Việc kết nối hạ tầng và phối hợp nguồn lực giữa hai cảng nước sâu liền kề tại Cái Mép - Thị Vải vừa qua đã mở ra hướng khai thác hiệu quả hơn năng lực hiện hữu trong bối cảnh các hãng tàu ngày càng yêu cầu cao về quy mô tiếp nhận và năng suất xếp dỡ.
Theo Ủy ban châu Âu (EC), tổng giá trị năng lượng Nga mà EU đã mua kể từ năm 2022 vào khoảng 209 tỷ USD, thấp hơn 112 tỷ USD so với con số mà phía Moscow công bố, trong bối cảnh khối này đẩy mạnh giảm phụ thuộc vào nguồn cung năng lượng từ Nga…
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.