
Trong khi, Ngần, người Mường ở xóm Trại Mới, xã Tiến Xuân khoe: “Từ ngày chúng em thành người thủ đô, hội phụ nữ về, cho em hai “nạng” hạt rau”; thì, chồng là Quách Đình Tư cười: “Chúng em vẫn ở cách “năng” Bác 3 tiếng xe bác ạ”. Tiến Xuân là một trong bốn xã của huyện Lương Sơn, Hoà Bình, từ 2008 “trở thành” Hà Nội
.
“Phúc lợi đô thị” mà người dân ở đây tiếp cận, theo Tư, là… bụi. Hàng ngày có hàng chục xe ben chạy ngang xã lấy đất. Theo Tư: “Không thể sống được vì bụi”. Chính quyền tỉnh Hoà Bình đã ký phê duyệt tới 54 dự án phát triển đô thị trước khi bàn giao bốn xã này.
Đặc biệt, có dự án như khu biệt thự nhà vườn xã Yên Bình toàn bộ hồ sơ được tỉnh ký chỉ trong vòng một ngày (29/2/2008). Trong khi, theo một khảo sát của bộ Xây dựng, một dự án như vậy, trong điều kiện bình thường, phải mất tới ba năm để xin phê duyệt.
Nhưng, bụi chỉ là những gì nhìn thấy trên bề mặt. Chàng trai cựu chiến binh Mường này nói đùa: “Bán hết đất cho các dự án rồi chắc là em lại ra đường đánh đàn xin tiền thôi bác ạ. Em đánh đàn hay lắm”. Nhưng, nhiều người Kinh khác không thể hài hước hoá tình cảnh của mình như Tư. Khi chúng tôi vào một nhà dân ở khu vực nông trường Việt Mông (cũ), nay thuộc xã Yên Bài, huyện Ba Vì, chỉ để định mua một ấm trà, người dân liền kéo đến đầy nhà.
Ông Ninh, thay mặt bà con nói: “Như trời sập xuống đầu chúng tôi, anh ạ. Đất của chúng tôi đã được tỉnh Hà Tây cũ ký giao cho công ty cổ phần Việt Mông rồi”.
Dự án “làng chè sinh thái” mà công ty Việt Mông trình tỉnh Hà Tây, vẽ ra một khung cảnh hấp dẫn về “kinh tế kết hợp với du lịch sinh thái” ở trên một diện tích rộng 941 ha. Nhưng người dân ở đây lại nhìn thấy màu của những toà biệt thự vườn sẽ được công ty này xây bán. Vấn đề là tại sao, họ, những người dân đang làm chủ những vườn chè đẹp như tranh vẽ ấy lại không được hỏi ý kiến, lại không là một phần của dự án mà phải “giao lại vườn tược nhà cửa cho mẹ con bà chủ tịch công ty cổ phần này”.
Ông Ninh kể: “Mãi đến ngày 24/10/2008, chúng tôi mới được xã triệu tập lên để nghe bà chủ tịch công ty đọc quyết định ký ngày 4/7/2008 của Hà Tây”. Tương tự, người dân ở xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, cũng bị lấy đất “giao cho dự án”.
Ông Nguyễn Văn Tể, 69 tuổi, nói: “Tôi cũng có công ty, tôi cũng cần đất, xã nói phải ưu tiên cho người địa phương, nhưng rồi, cách đây sáu tháng, xã lên loa, kêu dân lên họp, thông báo “trên” đã quyết định giao ruộng của chúng tôi cho một tư nhân. Đã có lệnh, ai không nhận tiền thì “trên” sẽ chuyển vào kho bạc”. Ở thôn Sơn Đồng, xã Tiên Phương của ông Tể có nhiều người không chịu nhận tiền. Nguyễn Đình Thuy, giải thích: “Bán hết thì nhà em chết đói. Em 45 tuổi, chỉ học hết lớp 4, bác bảo không có ruộng thì em ra đình tán hươu, tán vượn à”.
Cũng sẽ thật bất nhẫn khi tranh luận với người dân về “giấy tờ” đối với ruộng nương của họ. Ông Tể nói: “Đất này trước đây là thùng đào, hố đấu, xã kêu chúng tôi ra nộp tiền cho xã rồi lấp hố, cải tạo thành ruộng, giờ bảo chúng tôi đúng thì đúng, bảo chúng tôi sai thì sai”.
Câu chuyện ở Ba Vì cũng tương tự. Hơn 20 năm trước, ông Ninh cùng với hàng ngàn thanh niên từ các huyện vùng xuôi, “theo tiếng gọi của Đảng”, bỏ làng, bỏ những thửa ruộng đẹp nhất cho những hộ dân khác lên khai khẩn đất hoang, phát triển “vùng kinh tế Nam Ba Vì”. Mỗi gia đình tạo lập được cho mình một ngôi nhà nho nhỏ, một vườn chè xinh xắn với khát vọng an cư. Không có dự án thì làng của họ cũng đã đẹp như những “làng sinh thái”.
Khi “rà soát” lại các đồ án quy hoạch “Tổ công tác” thống kê được 772 dự án đã được ký duyệt vội vàng trước khi bốn xã thuộc Hoà Bình, huyện Mê Linh và tỉnh Hà Tây nhập về Hà Nội. Ngoài những hệ luỵ về hạ tầng đô thị mà chúng tôi sẽ đề cập trong một bài khác, tiến trình đô thị hoá phần Hà Nội mới đang xuất hiện quan hệ Nhà nước “thu hồi đất của nông dân” để giao cho các nhà đầu tư một cách tràn lan.
Ở dự án Làng sinh thái chè Việt Mông, ngay sau khi tỉnh Hà Tây ký phê duyệt dự án, giám đốc công ty Dương Quang Huy đã ra lệnh: “Nghiêm cấm các hoạt động san ủi, đào đắp làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất hoặc chuyển nhượng đất. Nghiêm cấm việc xây dựng nhà ở, công trình…”.
Thông báo này của ông Huy, giám đốc một công ty cổ phần, có điều 4: “gửi tới tất cả các đơn vị đội, các trưởng thôn, xóm; các tổ chức xã hội để thông báo đến toàn thể các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình biết và thực hiện nghiêm túc”. Trong khi, người dân chưa hề được thảo luận về các phương án đền bù và đặc biệt là chưa được hỏi xem có đồng ý “nhượng quyền sử dụng đất” hay không thì việc Việt Mông ra một quyết định vi phạm cả về thẩm quyền hành chính và dân sự như vậy phải bị chính quyền địa phương thu hồi ngay lập tức.
Rất tiếc, ngày 19/3/2009, Ủy ban Nhân dân huyện Ba Vì đã “hợp thức hoá quyền lực nhà nước” này cho Việt Mông bằng cách ra thông báo số 16: “Giao cho Công ty Cổ phần Việt Mông và các xã… thường xuyên kiểm tra, phát hiện, xử lý… Giao cho công an huyện bố trí lực lượng thường xuyên hỗ trợ các xã, Công ty Việt Mông, đảm bảo và hỗ trợ an ninh trật tự trong trường hợp cưỡng chế”.
Sáng 13/4/2009, ở huyện Chương Mỹ, chúng tôi chứng kiến cảnh một nhóm nông dân đứng bên lò gạch Tiên Phương, nhìn những chiếc xe benz của một công ty tư nhân đổ đất lên ruộng lúa ba tháng tuổi đang nuôi đòng của họ. Họ đứng nhìn từ xa vì những chiếc xe benz ấy giờ đây đã được coi là “quyền lực”.
Không phải tự nhiên, mà Luật Đất đai quy định, Nhà nước chỉ thu hồi đất khi có nhu cầu sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế. Ý chí ban đầu của các nhà làm luật là không để cho Nhà nước trở thành chỗ dựa để các doanh nghiệp “ép giá” đất của nông dân. Nhưng, quy định này có vẻ như đang bị ngày càng lạm dụng.
Những dự án kinh doanh địa ốc do tư nhân thực hiện, giờ đây, cũng đang thủ lợi lớn dưới danh nghĩa “lợi ích công” và Nhà nước, đã vô tình nuôi sự căng thẳng với người dân khi lạm dụng quá nhiều “giải toả”.
Sự ổn định xã hội ở những vùng đang đô thị hoá là vô cùng quan trọng. Hội đồng Nhân dân và Thành uỷ Hà Nội cần phải nắm tâm tư và tình cảm của người dân ở trong vùng có đất bị thu hồi cho dự án. Có lẽ, Quốc hội, cơ quan bỏ phiếu cho việc sáp nhập Hà Nội, cũng không nên đứng ngoài cuộc.
Theo Nghị quyết 66 ngày 29/6/2006 của Quốc hội, những “dự án, công trình phải di dân tái định cư từ hai mươi nghìn người trở lên ở miền núi, từ năm mươi nghìn người trở lên ở các vùng khác” phải được thông qua bởi Quốc hội. Các dự án ở Hà Nội đang cùng lúc tác động đến hàng triệu nông dân sống xung quanh thủ đô. Sự tác động ấy rất cần được coi là “trọng điểm” để đặt lên bàn nghị sự.
Huy Đức
(SGTT)




TP.Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình qua Trung tâm Tài chính Quốc tế, hướng tới hình thành chương trình huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm...
Sau kế hoạch chuyển toàn bộ cổ phiếu niêm yết về Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE), cơ quan quản lý tiếp tục tính toán phương án tổ chức lại cách vận hành thị trường với nhiều thay đổi như giao dịch xuyên trưa, nới biên độ dao động giá và rút ngắn thời gian thanh toán…
Quy mô thị trường trái phiếu xanh Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với quy mô tín dụng xanh, trong khi nhiều dự án chuyển đổi xanh cần nguồn vốn trung và dài hạn. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore và Nhật Bản cho thấy Nhà nước có thể hỗ trợ những chi phí đang cản trở doanh nghiệp bước vào thị trường vốn xanh.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, có yêu cầu về nguồn lực cho tăng trưởng sẽ lớn hơn, dài hạn hơn và đa dạng hơn đáng kể so với trước. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 được đặt ở mức từ 10%/năm trở lên, cùng với yêu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là nền kinh tế cần thêm bao nhiêu vốn, mà là nguồn lực đó sẽ được huy động từ đâu, dẫn truyền qua kênh nào và phân bổ như thế nào để tạo ra hiệu quả tăng trưởng cao nhất?
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, việc Việt Nam nghiên cứu khả năng phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của thị trường. Nếu phương án này được thông qua và triển khai, đợt phát hành mới không chỉ mở lại một kênh huy động vốn mà còn là cơ hội để Việt Nam tái thiết lập đường cong lợi suất chuẩn, mở rộng cơ sở nhà đầu tư quốc tế và tạo điểm tham chiếu cho các đợt phát hành trái phiếu tiếp theo trên thị trường quốc tế.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.