
Trở lại Thọ Bình hôm nay, ít ai nghĩ rằng vùng đất này từng trải qua không ít thăng trầm với cây chè. Nơi đây trước kia là xã Bình Sơn được thiên nhiên ưu đãi khí hậu mát mẻ, đất đai phì nhiêu, là điều kiện lý tưởng để cây chè bén rễ và trở thành cây trồng chủ lực.
Từ năm 1992, khi Dự án 327 (chương trình phủ xanh đất trống, đồi núi trọc) được triển khai phát triển vùng kinh tế Tây Nam Triệu Sơn, hàng trăm hộ gia đình từ khắp nơi đã về đây lập nghiệp. Trong muôn vàn khó khăn, người dân ban đầu trồng sắn, khoai và một số cây lâm nghiệp. Cây chè khi ấy chỉ là một lựa chọn thử nghiệm, nhưng lại tỏ ra phù hợp vượt trội với thổ nhưỡng, khí hậu vùng cao.
Giai đoạn 1998 – 2013, cây mía lên ngôi nhờ chính sách thu mua của Nhà máy Đường Lam Sơn, giúp người dân có thêm nguồn thu ổn định. Tuy nhiên, khi hiệu quả kinh tế của cây mía giảm, người dân lại quay về với cây chè – loại cây không chỉ gần gũi mà còn bắt đầu cho thấy tiềm năng dài hạn, nhất là khi giống chè PH8 được đưa vào trồng từ năm 2016.
Giống chè mới với năng suất cao, chất lượng búp ngon đã đánh dấu bước chuyển mình của vùng chè Bình Sơn. Người dân mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đầu tư cơ giới hóa khâu chăm sóc và thu hái, từng bước hình thành cách làm chè bài bản. Tiêu biểu như gia đình anh Trịnh Đình Huy – hộ tiên phong trồng 3 ha chè PH8, mỗi năm thu nhập ổn định từ 90–100 triệu đồng, trở thành một hình mẫu tại địa phương.
Tuy nhiên, do sự thiếu định hướng về thị trường và kỹ thuật chế biến khiến sản phẩm chè phần lớn vẫn chỉ dừng lại ở mức sao khô, đóng bao thủ công, tiêu thụ qua thương lái. Không ít hộ dần mất niềm tin vào cây chè, đồi chè bị chặt bỏ để trồng keo, bạch đàn. Cây chè có lúc tưởng như bị lãng quên.
Trước nguy cơ mai một vùng nguyên liệu quý, năm 2016, Hợp tác xã Dịch vụ nông lâm nghiệp Bình Sơn được thành lập. Ban đầu, hợp tác xã tập trung khôi phục diện tích chè, tổ chức sản xuất tập trung và định hình thương hiệu.
Tới năm 2019, Hợp tác xã chè Bình Sơn chính thức ra đời, quy tụ hơn 120 hộ sản xuất, chế biến. Hợp tác xã không chỉ đứng ra thu mua, chế biến mà còn xây dựng quy trình sản xuất an toàn, truy xuất nguồn gốc.
Tính đến năm 2024, diện tích chè tại Thọ Bình đã vượt ngưỡng 400 ha. Dự kiến trong năm 2025, địa phương sẽ trồng thêm 50 ha, nâng tổng diện tích lên 450 ha. Với năng suất bình quân đạt 80–100 tạ/ha, sản lượng chè búp khô mỗi năm có thể đạt 250 tấn, đem về doanh thu xấp xỉ 36–37 tỷ đồng. Trong đó, khoảng 12 ha đã đạt chuẩn VietGAP, với hai sản phẩm được chứng nhận OCOP 3 sao cấp tỉnh.
Không dừng lại ở mục tiêu nâng cao thu nhập nông hộ, chính quyền địa phương còn xác định phát triển chè theo mô hình kinh tế xanh, kết hợp với du lịch cộng đồng.
Theo kế hoạch đến năm 2025, Thọ Bình sẽ đón 500–700 lượt khách/năm và tăng lên 1.000–1.500 lượt khách/năm vào năm 2030. Các tour trải nghiệm hái chè, chế biến chè truyền thống, thưởng trà kết hợp giao lưu văn hóa dân tộc được kỳ vọng trở thành điểm nhấn, thu hút du khách và gia tăng giá trị vùng chè.
Dù vậy, lãnh đạo xã Thọ Bình vẫn trăn trở diện tích chè tập trung hiện chưa hình thành rõ nét, sản xuất còn phân tán, thiếu đồng bộ. Việc gắn sản xuất chè an toàn với khai thác du lịch vẫn ở giai đoạn khởi động, chưa phát huy được hết tiềm năng. “Muốn chè trở thành thương hiệu lớn thì phải làm bài bản từ khâu trồng, chăm sóc, chế biến đến xúc tiến thương mại và gắn kết du lịch trải nghiệm,” đại diện chính quyền xã chia sẻ.
Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển toàn diện vùng chè, chính quyền địa phương đã phối hợp chặt chẽ với các phòng, ban chuyên môn tổ chức các lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật sản xuất theo hướng VietGAP, hữu cơ, đảm bảo an toàn thực phẩm. Công tác kiểm soát vật tư nông nghiệp, đặc biệt là thuốc bảo vệ thực vật, được siết chặt để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và hệ sinh thái tự nhiên.
Bên cạnh đó, địa phương đang tích cực mời gọi doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu, ứng dụng công nghệ cao trong bảo quản và đa dạng hóa sản phẩm. Mục tiêu không chỉ là chè khô truyền thống mà còn phát triển các dòng sản phẩm như chè ướp hoa, trà túi lọc, bột trà xanh... phục vụ thị trường cao cấp và hướng tới xuất khẩu.




Biến đổi khí hậu, thời tiết nắng nóng cực đoan, nhiệt độ ngày một tăng đặt ra yêu cầu xây dựng phát triển các công trình xanh, công trình có khả năng thích ứng, chống chịu nắng nóng, tối ưu năng lượng, giảm phát thải carbon...
Nga đang phát triển đoàn tàu cao tốc đầu tiên do nước này tự chế tạo, có thể đạt tốc độ 400 km/h và chở tối đa 460 hành khách. Việc ứng dụng AI trong hỗ trợ vận hành, kết hợp các giải pháp giảm khối lượng đoàn tàu, tiếng ồn và tiêu thụ năng lượng, được kỳ vọng nâng cao hiệu quả công nghệ đường sắt…
Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam (cập nhật năm 2025) vừa công bố đưa ra 3 kịch bản tương ứng với các mức phát thải và phát triển kinh tế xã hội khác nhau. Điểm đáng chú ý, kịch bản đã bước đầu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu với một số ngành/lĩnh vực nhạy cảm của Việt Nam như sản xuất lúa; sức khỏe cộng đồng; đô thị và công trình…
Biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức lớn cho các địa phương ven biển, đặc biệt là tại tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa. Tuy nhiên, thay vì đến khi thiên tai xảy ra mới ứng phó, người dân nơi đây đã chủ động chuẩn bị trước, giảm thiểu thiệt hại và tìm kiếm những giải pháp bền vững hơn...
Chính phủ Hàn Quốc đặt mục tiêu đạt công suất năng lượng tái tạo 100 GW vào năm 2030 và hướng tới việc xe điện cùng xe chạy bằng hydro chiếm hơn 70% doanh số bán xe mới vào năm 2035...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.