Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại TP.HCM (HCMC C4IR) là trung tâm đầu tiên của Việt Nam, cũng là trung tâm thứ hai tại Đông Nam Á và nằm trong mạng lưới 24 Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF). Vậy, HCMC C4IR sẽ đóng vai trò như thế nào trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là việc hiện thực hóa các mục tiêu mà Nghị quyết 57 đặt ra, thưa ông?
HCMC C4IR được thành lập với sứ mệnh góp phần giúp Việt Nam định hình các thể chế, chính sách vượt trội, đột phá nhằm chủ động, tích cực khai thác hiệu quả các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Phát biểu tại sự kiện bên lề của Diễn đàn Davos 2025, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng việc thành lập Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại TP.HCM là hoàn toàn phù hợp chủ trương và góp phần tích cực triển khai Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về phát triển đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Kỳ vọng Trung tâm HCMC C4IR sẽ trở thành hạt nhân đổi mới sáng tạo, phát triển xứng tầm với TP.HCM và quan hệ giữa WEF với Việt Nam nói chung, TP.HCM nói riêng, phát huy và lan tỏa ảnh hưởng tích cực của WEF, cộng đồng 24 Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên toàn cầu và các trung tâm đổi mới sáng tạo các nước, góp phần giải quyết các vấn đề của Việt Nam, khu vực và thế giới, trong đó TP.HCM là địa phương tiên phong nghiên cứu triển khai.
Việc HCMC C4IR tham gia vào mạg lưới C4IR của WEF có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cho phép Việt Nam tiếp cận và đi cùng với các nước tiên tiến trong trong việc định hình cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu. Thông qua mạng lưới C4IR của WEF, HCMC C4IR có thể tiếp cận và thừa hưởng được các ý tưởng, khung tư duy, sáng kiến, nguồn lực của WEF giúp Việt Nam định hình và triển khai nhanh, hiệu quả các sáng kiến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa.
Bên cạnh đó, HCMC C4IR còn đóng vai trò thúc đẩy hợp tác công nghệ giữa Việt Nam, TP.HCM và quốc tế, nghiên cứu các xu hướng công nghệ mới thông qua mạng lưới C4IR toàn cầu, Diễn đàn Kinh tế thế giới, các trung tâm đổi mới sáng tạo của các nước, cộng đồng doanh nghiệp trong nước và quốc tế, từ đó tham mưu chính sách cho thành phố và quốc gia.
Ông đánh giá như thế nào về tiến độ và thách thức trong công cuộc chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong khu vực công? Việc đảm bảo an toàn, an ninh mạng trong quá trình chuyển đổi số là mối quan tâm lớn, Trung tâm có hỗ trợ gì trong việc xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số an toàn, tin cậy?
Đảng và Nhà nước trong thời gian qua đã kịp thời có những chủ trương, chính sách đúng và trúng nhằm chủ động, tích cực trong tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số. Nhờ đó, chuyển đổi số, kinh tế số trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu quan trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế số của Việt Nam đạt cao nhất của khu vực Đông Nam Á và luôn nằm trong top đầu của khu vực và thế giới.
Tuy vậy, đánh giá chung thì chuyển đổi số, đặc biệt là chuyển đổi số trong khu vực công vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa thực hiện tốt vai trò dẫn dắt, kiến tạo hoạt động chuyển đổi số quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế số. Thách thức chủ yếu nằm ở việc tích hợp, đồng bộ và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ ngành, địa phương, chưa tạo lập được các nguồn tài nguyên dữ liệu mở phục vụ cho mục tiêu thúc đẩy đổi mới sáng tạo dựa trên dữ liệu mở trong cộng đồng, xã hội, qua đó thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển kinh tế số.
Đồng thời, an toàn, an ninh mạng là trụ cột không thể thiếu nếu muốn xây dựng một nền kinh tế số tin cậy. Đảm bảo an toàn, an ninh mạng là một trong những lĩnh vực mà WEF nói chung và mạng lưới các C4IR nói riêng đặc biệt quan tâm và có những sáng kiến cụ thể. HCMC C4IR cũng sẽ khai thác các khung tư duy, chính sách và nguồn lực của WEF để có những khuyến nghị chính sách phù hợp cho Việt Nam trong thời gian tới.
Cơ chế thử nghiệm (sandbox) được đánh giá là “bệ phóng” để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo ra nhiều mô hình kinh doanh mới, có tính đột phá ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, vấn đề sandbox ở Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực mới như tài chính số, blockchain… vẫn còn dè dặt. Vậy, HCMC C4IR sẽ tháo gỡ những điểm hạn chế này như thế nào? Theo ông, đâu là những lĩnh vực mà HCMC C4IR sớm đề xuất, xây dựng chính sách đề nhanh chóng đưa vào thử nghiệm?
Đề xuất và thí điểm chính sách là nhiệm vụ trọng tâm của HCMC C4IR nhằm mục tiêu kiến tạo các động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng. Trong thời gian tới HCMC C4IR sẽ tập trung đề xuất mô hình sandbox có định hướng - tức là thiết kế những khung thử nghiệm phù hợp với mức độ rủi ro và tiềm năng của từng công nghệ cụ thể, thay vì một mô hình chung cho mọi lĩnh vực. Đồng thời, chúng tôi đang phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước của TP.HCM để xây dựng cơ chế điều phối linh hoạt giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các tổ chức đổi mới sáng tạo.
Về ưu tiên, chúng tôi hiện đang tập trung nghiên cứu đề xuất sandbox trong 4 lĩnh vực trọng điểm.
Một là, tài chính số, bao gồm mô hình ngân hàng số, dịch vụ tài chính tích hợp trên nền tảng số và các giải pháp công nghệ như e-KYC, chấm điểm tín dụng bằng AI...
Hai là, blockchain ứng dụng: không chỉ trong tài chính, mà còn trong chuỗi cung ứng, quản lý đất đai, và truy xuất nguồn gốc nông sản - nơi tính minh bạch và không thể sửa đổi là yếu tố cốt lõi.
Ba là, trí tuệ nhân tạo (AI): đặc biệt là AI trong y tế, giáo dục và hành chính công, nơi cần thử nghiệm về hiệu quả và tác động xã hội trước khi nhân rộng, thí điểm ứng dụng AI như trợ lý ảo phục vụ cho công tác điều hành kinh tế xã hội của thành phố.
Bốn là, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là nhóm lĩnh vực tiềm năng mới, đòi hỏi những giải pháp công nghệ chưa có tiền lệ, nên sandbox sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo “không gian an toàn” để sáng tạo.
Chúng tôi tin rằng nếu được triển khai đúng cách và đúng thời điểm, sandbox sẽ không chỉ tháo gỡ rào cản cho các mô hình kinh doanh đột phá, mà còn tạo tiền đề quan trọng để hoàn thiện thể chế phù hợp với nền kinh tế số và đổi mới sáng tạo trong dài hạn.
Theo ông, đổi mới sáng tạo hiện nay có phải là “đặc quyền” của các tập đoàn lớn và startup công nghệ? Làm thế nào để thúc đẩy tinh thần sáng tạo trong cả khu vực công, các ngành truyền thống và cộng đồng địa phương? Trung tâm có chiến lược cụ thể nào để đưa đổi mới sáng tạo vượt ra khỏi phạm vi “hội thảo, tọa đàm” và đi vào hoạt động của doanh nghiệp và cả quản lý nhà nước không?
Tôi không cho là như vậy, mà thực tế đã chứng minh các tập đoàn lớn và startup công nghệ đóng vai trò rất quan trọng trong thời gian qua, đây là nguồn lực, động lực quan trọng thúc đẩy, lan tỏa nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đổi mới sáng tạo có thể xuất phát từ bất kỳ đâu. Vấn đề là làm thế nào để chúng ta thay đổi tư duy về sáng tạo, không chỉ gắn nó với công nghệ phức tạp mà còn với cách chúng ta cải tiến quy trình, mô hình kinh doanh và giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống.
Đối với HCMC C4IR, chúng tôi đang nỗ lực để đưa tư duy đổi mới sáng tạo đến gần hơn với mọi tầng lớp xã hội. Chúng tôi mong muốn tạo ra những chương trình, dự án thực tế có thể thay đổi cuộc sống; đặc biệt chú trọng đến mối quan hệ hợp tác giữa khu vực công và doanh nghiệp, thúc đẩy hợp tác quốc tế cho cả khu vực công và doanh nghiệp. Vì vậy, chúng tôi đang phối hợp với các cơ quan ban ngành để triển khai những mô hình thí điểm, không chỉ dừng lại ở những sáng kiến nhỏ mà là những giải pháp có thể nhân rộng và ứng dụng trong phạm vi lớn hơn.
Tôi tin rằng thúc đẩy tư duy hội nhập để đổi mới sáng tạo trở thành một phần của văn hóa phát triển tại Việt Nam, chúng ta phải làm cho nó trở nên gần gũi và thực tế hơn. Khi đó, đổi mới sáng tạo sẽ là một phần tất yếu trong mọi lĩnh vực, từ khu vực công đến các ngành truyền thống, từ thành phố lớn đến các cộng đồng địa phương, trong đó các tập đoàn lớn hay startup đóng vai trò đồng hành, dẫn dắt cộng đồng.
VnEconomy 30/04/2025 06:23
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 17 18-2025 phát hành ngày 28/4 - 11/5/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/tap-chi-kinh-te-viet-nam
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.
Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.
Nông thôn đã đi một quãng dài từ chuyện đủ ăn, có điện, có đường, có trường, có trạm. Trên nền ấy, một lớp thay đổi khác đang hình thành: cánh đồng được quản trị bằng dữ liệu, phụ phẩm trở thành đầu vào mới, sản vật quê nhà có thương hiệu, có mã truy xuất, có thể bán qua một chiếc điện thoại. Nông nghiệp xanh và nông thôn thông minh gặp nhau ở những việc rất gần với người dân: làm ra nhiều giá trị hơn trên đất cũ, giảm phần phải bỏ đi, giữ môi trường sống và tiếp cận thị trường thuận lợi hơn.
Bắc Trung Bộ từng được biết đến là một trong những dải đất gặp nhiều khó khăn nhất Việt Nam do địa hình dẹp ngang, thiên tai khắc nghiệt và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dấu tích chiến tranh. Nhưng hôm nay, chính những yếu tố từng bị xem là bất lợi đang được đánh giá lại. Biển mở ra không gian kinh tế, Trường Sơn nối với các hành lang giao thương, còn cao tốc rút ngắn khoảng cách, tiết giảm chi phí logistics, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tài nguyên tự nó chưa tạo nên lợi thế. Giá trị xuất hiện khi con người biết tổ chức, kết nối và sử dụng tài nguyên đúng cách.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.