Chia sẻ tại tọa đàm “Để hiện thực những mục tiêu xây dựng Thủ đô Hà Nội hiện đại, văn minh, hạnh phúc và phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới” do Báo Kinh tế & Đô thị phối hợp cùng các đơn vị tổ chức, KTS Phạm Thanh Tùng, Chánh Văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam cho biết hiện nay Việt Nam có 937 đô thị, với tốc độ đô thị hóa thuộc nhóm nhanh hàng đầu thế giới. Điều đó đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận trong công tác quy hoạch và quản trị đô thị. Theo ông, Hà Nội cần vượt qua mô hình quản trị truyền thống. Bởi trong các quy hoạch chung, quy hoạch vùng, nhiều vấn đề mới đã xuất hiện nhưng chưa được tích hợp đầy đủ, đòi hỏi một cách tiếp cận linh hoạt và đồng bộ hơn.
Trong đó, ông Tùng nhấn mạnh để xây dựng Hà Nội trở thành đô thị thông minh, việc đầu tiên cần quan tâm là phát triển hạ tầng thông minh. Quy hoạch thông minh phải bắt đầu từ nền tảng này, chứ không thể chỉ mở rộng những con đường lớn mà khi mưa xuống lại không biết nước thoát đi đâu. Chúng ta nói nhiều đến công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, nhưng vấn đề là làm thế nào để đưa những công nghệ đó vào thực tiễn quản lý ở cấp xã, phường.
Thực tế quản lý phải giải quyết bất cập hệ thống thoát nước của chúng ta vẫn chưa được tính toán đầy đủ về lưu lượng, hướng thoát và khả năng chống ngập. Chúng ta có thể nghiên cứu “thành phố bọt biển” – đô thị có khả năng thấm và điều tiết nước mưa tự nhiên. Hiện nay, việc lát đá toàn bộ vỉa hè, bê tông hóa bề mặt dẫn đến thực trạng nước không có chỗ thấm, dẫn tới úng ngập, đánh mất sự “thở” của đất đô thị.
Ngoài ra, đô thị đa cực và bài toán quản lý hai cấp cũng là điều cần quan tâm. Thực tế, Hà Nội đang phát triển theo mô hình đô thị đa cực, điều này không phải mới mà kế thừa từ định hướng 5 đô thị vệ tinh trước đây. Tuy nhiên, vấn đề là cần làm thế nào để mô hình vận hành hiệu quả trong cơ chế chính quyền hai cấp. Khi triển khai thực tế, việc lồng ghép quy hoạch, đảm bảo liên kết vùng và giáp ranh còn rất nhiều khó khăn.
Một con số đáng lưu ý là chúng ta đang đô thị hóa đất nông thôn, nhưng tỷ lệ đô thị thực chất còn thấp. Nhiều dự án lớn được triển khai nhưng chưa tạo được chuyển biến đồng bộ. Theo vị kiến trúc sư, trong quy hoạch sắp tới, cần trả lại cho Hà Nội đúng nghĩa là “thành phố sông hồ” – nơi hồ, đập, kênh, mương không chỉ là nơi trữ nước mà còn là không gian sinh thái và văn hóa đặc trưng. Trước đây, hệ thống thủy lợi từ Hà Tây, Hà Nội đến Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương được hình thành bằng lao động cộng đồng, rất hiệu quả. Ngày nay, chúng ta đang dần quên đi những giá trị đó. Các dòng sông như Tô Lịch, Nhuệ, Đáy, vốn là mạch sống của Hà Nội đang bị tắc nghẽn và ô nhiễm nặng.
Đặc biệt, “Một diễn giả đã nói Hà Nội mong mỏi có người mang nước về cho sông”. Đó là cách nói ẩn dụ nhưng rất đúng. Sông phải được “hồi sinh” thì mới có thể nói đến đô thị xanh. Trục cảnh quan sông Hồng hiện được định hướng trở thành không gian phát triển xanh, bền vững. Nhưng để sông Hồng thực sự là “trục xanh” của Thủ đô, cần một cơ chế quản trị thống nhất và đủ quyền lực, vì đây không chỉ là câu chuyện quy hoạch, mà còn là an ninh nguồn nước, tài nguyên và văn hóa. Dọc hai bên sông Hồng có hàng trăm ngôi chùa, làng nghề, di tích – tất cả tạo nên tầng văn hóa sâu dày của Hà Nội.
Vì vậy, quy hoạch sông Hồng phải đặt trong tầm nhìn văn hóa, không thể chỉ nhìn ở khía cạnh sử dụng đất hay kỹ thuật. Ngay cả những bãi ven sông – thay vì bị lấn chiếm, sử dụng tạm bợ – hoàn toàn có thể trở thành không gian sinh thái, cảnh quan hoặc khu vực tưởng niệm đặc thù, nếu được quy hoạch đúng hướng”, chuyên gia nhấn mạnh.
Hà Nội đang bước vào giai đoạn phát triển đặc biệt, khi các định hướng về quy hoạch, hạ tầng thông minh, không gian đô thị và bảo tồn giá trị văn hóa – sinh thái được rà soát, điều chỉnh để phù hợp với mục tiêu phát triển dài hạn đến năm 2045 và tầm nhìn 2065. Đây là thời điểm quan trọng để thành phố kết nối phát triển hạ tầng hiện đại, quản lý đô thị hiệu quả và khai thác các không gian mới.
Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, Hà Nội cần định vị lại vai trò của mình trong cấu trúc phát triển quốc gia. Thành phố không nên đặt vấn đề cạnh tranh với bất kỳ địa phương nào trong nước, mà phải dẫn dắt và lan tỏa phát triển. Nhưng đi đầu cả nước vẫn chưa đủ, Hà Nội phải đảm bảo sứ mệnh dẫn dắt sức cạnh tranh của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Đây không chỉ là câu chuyện về quy mô mà còn là yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, dựa trên lợi thế đặc trưng của Thủ đô về văn hóa, tri thức và sáng tạo. Khi những giá trị này được cụ thể hóa bằng quy hoạch và quản lý hiệu quả từ hạ tầng thông minh, đô thị đa cực đến hệ thống sông, hồ, Hà Nội sẽ có năng lực tạo động lực lan tỏa, không chỉ cho vùng Thủ đô mà cho cả đất nước.
Một trong những yêu cầu lớn đặt ra cho quy hoạch Hà Nội hiện nay là tổ chức lại không gian phát triển, phù hợp với quy mô dân số và hạ tầng. Việc mở rộng không gian không chỉ để giải tỏa áp lực dân cư mà còn nhằm tạo động lực cho phát triển bền vững. Hiện không gian phát triển của Hà Nội vẫn chủ yếu ở mặt đất, dẫn đến nhiều hạn chế như ngập úng, tắc nghẽn giao thông, giá đất cao, thiếu công viên, không gian công cộng. Đã đến lúc Hà Nội khai mở những không gian phát triển mới, đó là lợi thế đặc sắc và đặc biệt của Thủ đô.
PGS.TS Trần Đình Thiên phân tích, các loại không gian cần được Hà Nội ưu tiên khai thác gồm: không gian các dòng sông, đặc biệt là sông Hồng, để hình thành các khu đô thị sinh thái, không gian văn hóa và du lịch; không gian ngầm dành cho giao thông, bãi đỗ xe, thương mại và dịch vụ công cộng; không gian trên cao; không gian sáng tạo; không gian số, mở ra khả năng quản lý và kết nối vô hạn trong thời đại công nghệ…




Ở những nấc cao hơn của chuỗi giá trị, chuẩn mực không còn đơn thuần là điều kiện để doanh nghiệp tham gia thị trường. Khi được chuyển hóa thành năng lực thực thi, duy trì xuyên suốt và đồng bộ, chuẩn mực sẽ trở thành một phần quan trọng trong sức cạnh tranh của cả nền kinh tế.
Muốn thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, không chỉ cần khu công nghiệp tốt, chính sách tốt, mà còn phải có môi trường sống đủ tốt để chuyên gia quốc tế yên tâm làm việc, gắn bó và đưa gia đình đến sinh sống…
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu phát triển nhà ở phải căn cứ nhu cầu thực tế, khả năng chi trả của người dân và điều kiện từng địa phương; khắc phục mất cân đối cung-cầu; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tăng nguồn cung nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, đồng thời hoàn thiện chính sách để hạn chế đầu cơ, tránh lãng phí nguồn lực...
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.
Pháp luật và xã hội Việt Nam luôn đề cao sự công bằng, nhân văn, bảo vệ lẽ phải và quyền lợi chính đáng của người sở hữu nhà ở, bất kể đó là người Việt Nam hay người nước ngoài. Vì vậy, người nước ngoài có thể chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ pháp lý khi cần thiết...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.