bún mắm cua lộtbún mắm thạch cuagỏi mắm thạch cuagỏi thạch cua

Đổi mới mô hình tăng trưởng: Lồng ghép thiên nhiên vào phát triển kinh tế - xã hội

Nếu không sớm chuyển đổi sang mô hình phát triển dựa vào thiên nhiên, những rủi ro về tài nguyên và biến đổi khí hậu có thể trở thành lực cản đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong dài hạn...

Các đại biểu tham dự Hội thảo cấp cao "Đổi mới mô hình tăng trưởng: Lồng ghép thiên nhiên vào mô hình phát triển kinh tế - xã hội".
Các đại biểu tham dự Hội thảo cấp cao "Đổi mới mô hình tăng trưởng: Lồng ghép thiên nhiên vào mô hình phát triển kinh tế - xã hội".

Trong khuôn khổ hợp tác với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) Việt Nam và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP-WCMC), ngày 6/3/ 2026. Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo cấp cao với chủ đề "Đổi mới mô hình tăng trưởng: Lồng ghép thiên nhiên vào mô hình phát triển kinh tế - xã hội".

Hội thảo nằm trong khuôn khổ chương trình Hỗ trợ chuyển đổi tự nhiên (NTSP) - một sáng kiến toàn cầu nhằm giải quyết bài toán phức tạp giữa tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và giới hạn sinh thái tại Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.

ÁP LỰC TÀI NGUYÊN BUỘC VIỆT NAM PHẢI THAY ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG 

Theo PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, trên khắp Đông Á, trong đó có Việt Nam, tăng trưởng nhanh trong nhiều năm thường dựa trên một công thức quen thuộc: Tỷ lệ đầu tư cao, mở rộng khu công nghiệp, phát triển các hành lang hạ tầng - giao thông và đô thị hóa dẫn dắt bởi bất động sản.

Ông Thọ cho rằng "mô hình này đã tạo ra bước tiến rõ rệt về sản lượng, việc làm, nhưng cũng đồng thời ngầm coi đất đai và hệ sinh thái như một “nguồn lực vô hạn”. Các xu hướng sử dụng đất ở Việt Nam cho thấy giả định đó đang nhanh chóng mất hiệu lực".

Trong giai đoạn tới, năng lực tăng trưởng sẽ ngày càng phụ thuộc vào các hệ thống tự nhiên vì đó là nền tảng giúp duy trì sản xuất, hạ tầng và khả năng chống chịu trước rủi ro.

Theo nghiên cứu, nếu tiếp tục phát triển theo cách hiện nay với sự thu hẹp nhanh của dư địa đất đai để phục vụ hạ tầng, công nghiệp và dân cư, suy thoái tự nhiên có thể làm giảm tới 26% tiềm năng tăng trưởng GDP vào năm 2030.
Theo nghiên cứu, nếu tiếp tục phát triển theo cách hiện nay với sự thu hẹp nhanh của dư địa đất đai để phục vụ hạ tầng, công nghiệp và dân cư, suy thoái tự nhiên có thể làm giảm tới 26% tiềm năng tăng trưởng GDP vào năm 2030.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên đang bộc lộ những rủi ro dài hạn. Việt Nam hiện ghi nhận mức thâm hụt sức chứa sinh thái khoảng 220%, nghĩa là nhu cầu sử dụng tài nguyên đã vượt quá khả năng tái tạo của hệ sinh thái trong nước.

Đồng thời, Việt Nam đang nằm trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế cao, với GDP tăng từ 79 tỷ USD (năm 1990) lên hơn 1,6 nghìn tỷ USD (năm 2024), kèm theo đó là áp lực không hề nhỏ lên môi trường và tài nguyên thiên nhiên.

VnEconomy

Nếu không có biện pháp thích ứng mạnh mẽ, kịp thời và hiệu quả, các tác động kép của biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường có thể làm giảm tới 12,5% GDP mỗi năm vào năm 2050.

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ

Kết quả phân tích cho thấy, nếu tiếp tục phát triển theo cách hiện nay với sự thu hẹp nhanh của dư địa đất đai để phục vụ hạ tầng, công nghiệp và dân cư, suy thoái tự nhiên có thể làm giảm tới 26% tiềm năng tăng trưởng GDP vào năm 2030.

Khi đất đai ngày càng khan hiếm, tăng trưởng dựa vào hạ tầng và mở rộng không gian sẽ đối mặt với lợi suất giảm dần, chi phí xung đột cao hơn, đồng thời gia tăng rủi ro khí hậu và thiên tai tới giá trị bền vững của các đầu tư.

Các chuyên gia khẳng định với một nền kinh tế bị ràng buộc bởi giới hạn đất đai như Việt Nam, việc duy trì quá lâu mô hình đầu tư “xám” sẽ làm tích tụ các khoản nợ sinh thái và rủi ro, đến một điểm nhất định sẽ trở thành lực cản đối với tăng trưởng.

Ngược lại, nếu Việt Nam đầu tư sớm và hiệu quả vào bảo vệ và phục hồi thiên nhiên, nền kinh tế có thể đạt mức tăng trưởng cao hơn và bền vững hơn trong dài hạn.

Từ góc nhìn quốc tế, ông Fergus McBean, Bí thư thứ nhất về khí hậu và thiên nhiên, Đại sứ quán Anh chia sẻ, Việt Nam là quốc gia được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên, tạo nguồn sinh kế ổn định, tạo động lực cho việc thực hiện các mục tiêu hướng đến phát triển bền vững.

Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên đang bộc lộ giới hạn về hiệu quả và tạo ra những tác động môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô.

VnEconomy

Việc chuyển đổi sang mô hình phát triển dựa vào thiên nhiên không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn mở ra nhiều cơ hội mới cho tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao khả năng chống chịu của các hệ thống kinh tế trước những thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu.

Ông Fergus McBean

"Đặc biệt, việc lồng ghép các giá trị của vốn tự nhiên vào quá trình hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển được coi là bước đi quan trọng để đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường," ông Fergus McBean chỉ rõ.

PHÁT TRIỂN DỰA VÀO THIÊN NHIÊN - HƯỚNG ĐI CHO TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG 

Tại Hội thảo, các diễn giả đã chia sẻ cụ thể từng giải pháp lồng ghép giá trị của thiên nhiên vào quá trình hoạch định chính sách kinh tế và quy hoạch phát triển tại Việt Nam.

Giới thiệu tổng quan về Chương trình NTSP, bà Frida Díaz, cán bộ Chương trình nhấn mạnh, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể giảm tới 24% trong giai đoạn 2021 - 2030 nếu các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng như thụ phấn cây trồng, cung cấp gỗ, hải sản và hấp thụ carbon bị suy thoái do thay đổi sử dụng đất liên quan đến các lộ trình tăng trưởng hiện tại.

Trong bối cảnh đó, Chương trình NTSP sẽ hỗ trợ Việt Nam hiểu rõ sự đánh đổi giữa phát triển kinh tế và thiên nhiên, đồng thời xác định các lộ trình phát triển thay thế nhằm bảo vệ cả sự thịnh vượng và vốn tự nhiên.

Thông qua nghiên cứu ứng dụng cùng mô hình hóa dựa trên kịch bản, NTSP phát triển các lựa chọn chính sách dựa trên bằng chứng để hỗ trợ tầm nhìn về sự thay đổi mang tính chuyển biến của Việt Nam.

Việc lồng ghép các yếu tố sinh thái vào quá trình ra quyết định có thể giúp cải thiện hiệu quả chính sách phát triển, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Việc lồng ghép các yếu tố sinh thái vào quá trình ra quyết định có thể giúp cải thiện hiệu quả chính sách phát triển, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

NTSP cũng nêu bật 4 yếu tố chính để chuyển đổi sang một nền kinh tế gắn bó mật thiết với thiên nhiên, bao gồm: Sự tham gia của quốc gia; mô hình kinh tế - sinh thái kết hợp; phân tích kinh tế chính trị; khám phá các lộ trình phát triển thay thế và quá trình chuyển đổi của chúng.

"Việc triển khai NTSP tại Việt Nam thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với mô hình tăng trưởng tích cực với tự nhiên, dựa trên đồng kiến tạo chính sách và quản trị đa trung tâm," bà Frida Díaz cho biết. "Thông qua nền tảng bằng chứng định lượng, Chương trình hướng tới tái cấu trúc mối quan hệ kinh tế - sinh quyển, bảo đảm mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 được neo giữ vững chắc trong ổn định sinh thái dài hạn."

Chia sẻ về các kết quả nghiên cứu chính từ mô hình hóa tích hợp sinh thái - kinh tế tại Việt Nam, ông Arnout van Soesbergen, chuyên gia mô hình hóa, UNEP - WCMC cho biết mô hình này được xây dựng nhằm phân tích mối quan hệ giữa các hoạt động kinh tế và hệ sinh thái tự nhiên, từ đó đánh giá tác động của các chính sách phát triển đối với môi trường và đa dạng sinh học.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc lồng ghép các yếu tố sinh thái vào quá trình ra quyết định có thể giúp cải thiện hiệu quả chính sách phát triển, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Mô hình tích hợp cũng cung cấp nhiều kịch bản phát triển khác nhau, giúp nhà hoạch định chính sách lựa chọn phương án phát triển tối ưu, cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.

Ông Jeremy Hills, chuyên gia kinh tế môi trường của UNDP cũng giới thiệu một số kết quả chính của nghiên cứu Sách xanh 2.0 (Blue Book 2.0) dự kiến công bố vào trung tuần tháng 4/2026, nhằm bổ sung góc nhìn trực quan về quy hoạch không gian biển, quản trị biển, đại dương và các đánh đổi.

Sách xanh 2.0 sẽ tập trung vào 2 ngành kinh tế biển chủ chốt là năng lượng tái tạo, đặc biệt là tiềm năng năng lượng gió và thủy sản (nuôi biển). Những lĩnh vực này sẽ được phân tích trong mối tương quan với các cảng biển và tuyến hàng hải tại các khu vực đang có sự tăng trưởng mạnh của đồng bằng sông Hồng- miền Bắc (Hải Phòng và Quảng Ninh); miền Trung (vùng biển Ninh Thuận cũ- Khánh Hòa); và miền Nam (vùng biển Bạc Liêu cũ- Cà Mau) trong bức tranh tăng trưởng.

Bên cạnh việc cung cấp công cụ quy hoạch không gian biển hiện đại, cuốn sách được kỳ vọng mở ra tầm nhìn mới cho công tác quản trị, quản lý biển tổng hợp tại Việt Nam, qua đó hỗ trợ hiệu quả việc ra quyết định, nhận diện tiềm năng mới và định hình một nền kinh tế biển xanh, phát triển bền vững trong tương lai.

Nga phát triển tàu cao tốc 400 km/h, ứng dụng AI và công nghệ tiết kiệm năng lượng

Nga đang phát triển đoàn tàu cao tốc đầu tiên do nước này tự chế tạo, có thể đạt tốc độ 400 km/h và chở tối đa 460 hành khách. Việc ứng dụng AI trong hỗ trợ vận hành, kết hợp các giải pháp giảm khối lượng đoàn tàu, tiếng ồn và tiêu thụ năng lượng, được kỳ vọng nâng cao hiệu quả công nghệ đường sắt…

Kịch bản biến đổi khí hậu 2025: Đánh giá tác động đến sản xuất lúa, sức khỏe và công trình

Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam (cập nhật năm 2025) vừa công bố đưa ra 3 kịch bản tương ứng với các mức phát thải và phát triển kinh tế xã hội khác nhau. Điểm đáng chú ý, kịch bản đã bước đầu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu với một số ngành/lĩnh vực nhạy cảm của Việt Nam như sản xuất lúa; sức khỏe cộng đồng; đô thị và công trình…

Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu: Bước đi mới của người dân ven biển Nam Trung Bộ

Biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức lớn cho các địa phương ven biển, đặc biệt là tại tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa. Tuy nhiên, thay vì đến khi thiên tai xảy ra mới ứng phó, người dân nơi đây đã chủ động chuẩn bị trước, giảm thiểu thiệt hại và tìm kiếm những giải pháp bền vững hơn...

Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy