Bộ trưởng Bộ Nội vụ vừa ký Quyết định số 1104/QĐ-BNV ban hành Bộ chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
Việc xây dựng các chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp nhằm tạo căn cứ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện tổ chức đánh giá và công bố mức độ hài lòng của tổ chức và cá nhân đối với việc tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của các cơ quan, đơn vị, tổ chức được cơ quan có thẩm quyền giao thực hiện.
Phạm vi đánh giá bao gồm việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội (bao gồm các chế độ: hưu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) và bảo hiểm thất nghiệp.
Việc đánh giá được thực hiện đối với 3 khía cạnh. Thứ nhất, đánh giá nhận định, đánh giá của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, thông qua các tiêu chí như: Mức độ quan tâm theo dõi của tổ chức, cá nhân đối với các chính sách; kênh thông tin mà tổ chức, cá nhân sử dụng để theo dõi các chính sách; mức độ phù hợp của các hình thức tiếp cận thông tin về chính sách đối với tổ chức, cá nhân.
Đánh giá tình trạng cán bộ thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế gây phiền hà, sách nhiễu trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính (có tình trạng cán bộ thực hiện gây phiền hà, sách nhiễu tổ chức, cá nhân không; số lần tổ chức, cá nhân gặp tình trạng cán bộ gây phiền hà, sách nhiễu…).
Đánh giá tình trạng phải đưa tiền ngoài quy định cho cán bộ thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính...
Thứ hai, đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan tổ chức thực hiện thông qua 2 nội dung. Bao gồm: Đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với việc tổ chức thực hiện chính sách thông qua 4 yếu tố: Trách nhiệm giải trình của cơ quan tổ chức thực hiện; sự tham gia của tổ chức, cá nhân; chất lượng tổ chức thực hiện chính sách; kết quả, tác động của chính sách.
Đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với việc cung ứng dịch vụ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trực tiếp thông qua 5 yếu tố, gồm: Tiếp cận dịch vụ; thủ tục hành chính; cán bộ trực tiếp giải quyết công việc; kết quả dịch vụ; việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân.
Ngoài ra, còn đánh sự hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với việc cung ứng dịch vụ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp qua Cổng dịch vụ công quốc gia thông qua 5 yếu tố, gồm: Tiếp cận dịch vụ, được thể hiện qua các tiêu chí; thủ tục hành chính; kết quả dịch vụ; hỗ trợ dịch vụ, lưu trữ và bảo mật; việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân.
Thứ ba, đánh giá nhu cầu, mong đợi của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan tổ chức thực hiện thông qua các tiêu chí như: Nâng cao tính công khai, minh bạch trong cung cấp thông tin; tăng cường trách nhiệm giải trình; nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ của cán bộ đối với tổ chức, cá nhân trong giải quyết công việc; nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công trực tuyến…
Kết quả đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân được thể hiện qua một bộ chỉ số gồm 3 khía cạnh nêu trên. Bộ chỉ số này được xây dựng cho cả nước nói chung; cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; cho từng nhóm nhân khẩu học hay lĩnh vực, ngành, vùng, miền…
Theo Quyết định, Bộ Tài chính chỉ đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam căn cứ Bộ chỉ số này để tổ chức đánh giá, và công bố mức độ hài lòng của tổ chức và cá nhân đối với việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định.
Linh hoạt, tự do nhưng đầy bấp bênh và rủi ro - đây là bức tranh thực tế của hàng triệu lao động trên nền tảng số hiện nay. Khi những "ông chủ" thuật toán quyết định sinh kế qua một cú click khóa tài khoản, việc đưa lao động nền tảng số vào diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mở ra cơ hội được thụ hưởng chế độ an sinh xã hội tốt hơn cho nhóm lao động này...
Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi thành công mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ (TST), đạt 99,17% tổng số người thuộc phạm vi chuyển đổi...
Việc sử dụng tài khoản hưởng an sinh xã hội trên ứng dụng VNeID trong chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp hướng tới nâng cao tính thuận tiện, an toàn, minh bạch, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người thụ hưởng…
Các đối tượng lừa đảo trên mạng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, mạo danh cán bộ Bảo hiểm xã hội, công an hoặc cán bộ phường, xã để tiếp cận người dân, lợi dụng nhu cầu tra cứu thông tin, thực hiện thủ tục và giải quyết quyền lợi về bảo hiểm xã hội nhằm đánh cắp thông tin cá nhân, chiếm đoạt tài sản…
Cơ quan Bảo hiểm xã hội ghi nhận số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tiếp tục giảm. Tính riêng trong 9 tháng năm 2026, giảm 17,32% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy người lao động ngày càng quan tâm đến việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội lâu dài...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi) đang được xem xét tại nghị trường Quốc hội. Đại biểu Quốc hội thẳng thắn đề nghị quy định trong Luật phải bảo đảm về giá đất bồi thường và tái định cư. Không để việc đơn giản hóa phương pháp định giá làm giảm mức bảo vệ người có đất bị thu hồi. Dân di dời đi tạm cư thì phải có thời hạn.