cua sỉmua cua sỉnhập cua sỉthuế vì dân
VnEconomy
VnEconomy

Ông cho biết một số thông tin về thị trường carbon tự nguyện hiện nay? Thị trường này có những tiêu chuẩn nào, thưa ông?

Bản chất hình thành thị trường carbon tự nguyện (VCM) xuất phát từ những năm 1990 khi cần phải thực hiện theo yêu cầu đề ra tại Nghị định thư Kyoto. Kể từ đó, VCM phát triển nhanh chóng, dẫn đến cơ chế của nó bị thay đổi từ quốc gia này sang quốc gia khác và làm phân tán thị trường.

Do chưa có một bộ tiêu chuẩn dành riêng được áp dụng cho tất cả các bên nên các tiêu chuẩn được thể hiện với tính tương thích và linh hoạt, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, tính tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn, sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan cũng như tính bền vững của dự án. Theo đó, bên cung cấp – các nhà phát triển dự án sẽ gặp khó khăn lựa chọn các phương án khác nhau trong việc xác minh tín chỉ carbon. Còn người mua đôi lúc sẽ gặp rủi ro, làm cho thị trường khá phức tạp và tốc độ diễn ra chậm, tính đến tháng 9/2024.

Hiện nay có rất nhiều tiêu chuẩn để áp dụng cho VCM. Đơn cử, đối với các dự án theo phương pháp truyền thống thì VERRA, Gold Standard là những đơn vị hàng đầu. Với tiêu chuẩn đối với các dự án có công nghệ hiện đại, có thể kể đến Puro Earth, hay tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp thực hiện bù trù tín chỉ carbon phù hợp với mục tiêu khí hậu dài hạn như VCMI, SBTi, hoặc tiêu chuẩn Climate Neutral – trung hòa khí hậu dành cho các loại tín chỉ doanh nghiệp muốn sử dụng cho mục tiêu khí hậu. Các tiêu chuẩn này được áp dụng rất đa dạng, thực tế đang liên tục thay đổi và phát triển.

VnEconomy

Hiện nay, những dự án nào được xác định là dự án tạo ra chứng chỉ đền bù carbon mà doanh nghiệp có thể tham gia? Theo ông, ngoài vấn đề đền bù carbon, các dự án đó còn mang lại thêm những lợi ích gì?

Carbon offset có thể được sinh ra từ nhiều hoạt động như giảm phát thải khí nhà kính hoặc tăng lưu trữ carbon. Các hoạt động này được thực hiện dưới dạng dự án riêng biệt.

Một dự án carbon offset có thể là phát triển dự án năng lượng tái tạo (loại bỏ phát thải năng lượng hóa thạch từ việc sử dụng năng lượng truyền thống), lưu trữ trực tiếp khí nhà kính có độ độc hại cao như CH4 (Methane), N2O (Nitrous Oxide), SF6… Ngoài ra, đó có thể là dự án giảm phá rừng, phương pháp này có thể tránh được lượng phát thải carbon trong cây rừng cũng như thẩm thấu lượng carbon tăng thêm trong quá trình cây phát triển.

Những dự án này có thể được tăng từ mức vài trăm tấn CO2 đến hàng triệu tấn CO2 hàng năm. Trong hầu hết trường hợp, các dự án carbon offset sẽ mang lại cả lợi ích về môi trường và lợi ích xã hội, vượt xa hơn việc giảm phát thải khí nhà kính.

Như vậy, tùy thuộc vào từng loại dự án mà lợi ích tổng hợp sẽ bao gồm cả việc tăng cơ hội việc làm cho cộng đồng, bảo tồn đa dạng sinh học và môi trường sống, cải thiện tiếp cận năng lượng, tiếp cận tốt hơn các dịch vụ sức khỏe và giáo dục cộng đồng…

Trên thị trường, một số người mua tín chỉ carbon sẽ tìm kiếm những dự án sản sinh ra những lợi ích lớn.

VnEconomy

Vậy theo ông, loại doanh nghiệp nào, lĩnh vực nào nên tham gia đền bù carbon?

Doanh nghiệp nào, lĩnh vực nào cũng có thể tham gia. Tuy nhiên, đền bù carbon có một số đặc tính riêng như có thể tiếp cận nhanh, dễ dàng trên các sàn giao dịch và sẽ phục vụ nhanh cho yêu cầu giảm phát thải cấp bách đối với doanh nghiệp. Do đó, đền bù carbon phù hợp hơn với các doanh nghiệp nhỏ và vừa khó có thể tự giảm phát thải, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu như dệt may, da giày hoặc xuất khẩu nông sản như cà phê, hồ tiêu, quế hồi… Các thị trường mà các doanh nghiệp hướng đến thường là những thị trường lớn, có tiêu chuẩn nhập khẩu hàng hóa cao như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản.

Đền bù carbon có thể được mua bán và trao đổi trong thị trường bắt buộc, nhưng phần lớn chúng được mua bán và trao đổi tại thị trường tự nguyện.

VnEconomy

Ông có khuyến nghị gì với các doanh nghiệp khi tham gia đền bù carbon? Các doanh nghiệp cần lưu ý điều gì, thưa ông?

Điều cần lưu ý với đền bù carbon đó là doanh nghiệp luôn có cơ hội mua tín chỉ trong vòng đời tạo ra chúng. Tuy nhiên, có hai cách để đảm bảo mua được các tín chỉ đền bù đáp ứng được đúng theo yêu cầu của doanh nghiệp phát thải.

Thứ nhất, doanh nghiệp có thể mua bằng các hợp đồng ERPAs (emission reduction purchage agreements – hợp đồng mua bán giảm khí thải). Ví dụ như Ngân hàng Thế giới là bên mua tín chỉ đền bù từ 15,3 triệu ha rừng của Việt Nam.

Thứ hai, doanh nghiệp có thể mua tín chỉ đền bù bằng cách mua từ nhà bán lẻ (retailer), từ nhà môi giới (brockers), hoặc mua trên các sàn giao dịch (exchanges).

Lời khuyên tốt nhất là hãy thông qua nhà bán lẻ để thực hiện giao dịch cho dù giá tín chỉ đền bù có thể cao hơn so với các hình thức còn lại nhưng đảm bảo được tính pháp lý và một tín chỉ đền bù tương đương với một tấn CO2 phát thải thực ra ngoài khí quyển.

VnEconomy

Hiện nay, thị trường carbon được phân thành hai loại là thị trường bắt buộc và thị trường tự nguyện. Ở thị trường bắt buộc, các doanh nghiệp buộc phải thực hiện giảm phát thải theo ngưỡng được cơ quan quản lý đề ra, có thể mua bán, trao đổi lượng hạn ngạch thông qua hình thức đấu thầu và có thể thông qua cơ chế vay mượn giữa các doanh nghiệp.

Tại thị trường tự nguyện, các doanh nghiệp tự nguyện thực hiện giảm phát thải và có thể mua tín chỉ carbon (carbon credit) - chứng nhận cho việc giảm phát thải tương đương một tấn khí nhà kính – để đạt được mục tiêu giảm phát thải đề ra.

Hiện nay, thị trường tuân thủ có tổng giá trị lớn hơn nhiều so với thị trường tự nguyện, nhưng sẽ được xem là kém hấp dẫn hơn, theo nhận xét của Ngân hàng Thế giới. Tổ chức này dự báo, nhu cầu toàn cầu đối với tín chỉ carbon tự nguyện có thể tăng 15 lần hoặc hơn vào năm 2030, thậm chí lên tới 100 lần vào năm 2050.

Thị trường này có thể cán mốc 50 tỷ USD vào năm 2030 tùy theo các kịch bản và các yếu tố thúc đẩy, trong đó chứng chỉ về đền bù carbon (carbon offset) đóng vai trò quan trọng khi phần lớn được mua bán và trao đổi tại thị trường tự nguyện.

VnEconomy

VnEconomy 20/11/2024 08:34

 

Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 47-2024 phát hành ngày 18/11/2024. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam 

VnEconomy

Từ nguồn lực đến năng lực sáng tạo

Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.

Chuyển đổi nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng để gia tăng giá trị

Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.

Khai mở kho báu di sản

Có những vùng đất càng đi chậm càng thấy nhiều điều đáng giá. Một mái thành rêu phong ở Huế, dòng nước trong veo dưới chân Trường Sơn, hang động được gìn giữ qua triệu năm hay nếp nhà nép bên sườn núi đều có thể mở ra sinh kế mới. Nhưng giá trị không nằm ở việc đón thật đông người hay dựng thêm thật nhiều dịch vụ. Hành trình qua Huế, Sơn Đoòng và những bản làng phía Tây gợi một cách làm khác: để di sản bước vào đời sống hôm nay mà vẻ đẹp, ký ức và phần dành cho mai sau vẫn vẹn nguyên.

Đồng bộ dữ liệu để người dân TP. Hồ Chí Minh hưởng lợi từ chuyển đổi số

Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.

Công nghiệp Thủ đô: Bảy thập kỷ chuyển mình và bứt phá

Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.

Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy