Ngành du lịch Việt Nam đã xác lập nhiều kỷ lục mới trong năm 2025. Ông nhìn nhận đâu là những yếu tố then chốt giúp ngành du lịch Việt Nam đạt được kết quả ấn tượng này, đặc biệt trong bối cảnh phục hồi và cạnh tranh mạnh mẽ của thị trường quốc tế?
Năm 2025, ngành du lịch Việt Nam đã đạt nhiều kết quả rất đáng khích lệ, lập kỷ lục mới về lượng khách quốc tế đến với khoảng 21,2 triệu lượt, lập kỷ lục mới, tăng 22,1% so với năm 2024. Khách du lịch nội địa đạt khoảng 140 triệu lượt, tăng 64,7% so với năm 2019. Tổng doanh thu từ khách du lịch đạt mốc 1 triệu tỷ đồng.
Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism) đã từng dự báo trong năm 2025 du lịch toàn cầu chỉ phục hồi 90% so với trước đại dịch Covid-19, trong đó lượng khách du lịch quốc tế trên phạm vi toàn cầu được dự báo tăng khoảng 3-5%, khu vực châu Á Thái Bình Dương tăng 8%. Nếu nhìn lại dự báo này, có thể thấy kết quả mà Việt Nam đạt được như trên là một nỗ lực rất lớn cho cả một quá trình không ngừng nghỉ của toàn ngành du lịch.
Theo tôi, có năm động lực chính để du lịch Việt Nam đạt được kết qủa này.
Thứ nhất, ngành du lịch Việt Nam trong thời gian qua đã nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và sự chỉ đạo hết sức quyết liệt, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong việc ban hành các chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch Việt Nam.
Thứ hai, sự phối hợp, đồng hành của các bộ, ngành liên quan để cùng ngành du lịch tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho ngành du lịch có điều kiện phát triển trong bối cảnh mới.
Thứ ba, vai trò trong việc dẫn dắt, định hướng của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương thực hiện cơ cấu lại thị trường, xây dựng sản phẩm, tổ chức đa dạng công tác xúc tiến, quảng bá trong và ngoài nước, tận dụng hiệu ứng tích cực từ các chính sách mới cho hoạt động du lịch.
Thứ tư, nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc chủ động tổ chức các hoạt động văn hoá, lễ hội và các sự kiện nổi bật để thu hút khách du lịch.
Thứ năm, vai trò quan trọng của các doanh nghiệp – những người đã chủ động, tích cực trong kết nối thị trường, xây dựng sản phẩm mới, tổ chức các chương trình xúc tiến, quảng bá. Theo tôi, vai trò của doanh nghiệp là quan trọng nhất, tạo nên các hiệu ứng để cho ngành du lịch Việt Nam đạt được kết quả ấn tượng trong năm qua.
Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng như Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã có đóng góp gì trong việc đạt được những kết quả này, thưa ông?
Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng như Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã nỗ lực kiến tạo, tham mưu về chính sách, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động doanh nghiệp du lịch cũng như tổ chức triển khai các hoạt động xúc tiến, quảng bá ở nhiều thị trường mục tiêu và tiềm năng ở cả trên thực địa và trên các nền tảng mạng xã hội.
Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã nghiên cứu, tham mưu Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp với các bộ, ngành liên quan trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành những cơ chế, chính sách thuận lợi cho du lịch có điều kiện phát triển; định hướng các địa phương, doanh nghiệp xây dựng thêm nhiều sản phẩm mới, độc đáo trên cơ sở tiềm năng của từng địa phương, điểm đến.
Đối với công tác quản lý nhà nước, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã chủ động triển khai nhiều giải pháp quản lý điểm đến, tổ chức kiểm tra công tác chấp hành quy định pháp luật trong hoạt động du lịch tại nhiều địa phương, phối hợp đảm bảo an ninh an toàn, triển khai hiệu quả công tác chuyển đổi số trong lĩnh vực du lịch.
Bên cạnh đó, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã phối hợp với các đơn vị liên quan đổi mới về phương thức, hình thức, nội dung và cách thức tổ chức truyền thông, xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam, tạo hiệu ứng về truyền thông về điểm đến Việt Nam hấp dẫn, an toàn.
Với nền tảng tăng trưởng tích cực của năm 2025, ngành du lịch được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những động lực chính góp phần vào mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới. Theo ông, những đóng góp cụ thể của ngành trong giai đoạn tới là gì?
Trên cơ sở kết quả của năm 2025, có thể thấy rằng năm 2026 ngành du lịch Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những lĩnh vực có khả năng đóng góp quan trọng trong tăng trưởng kinh tế.
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và tính xã hội hóa cao. Vì thế, khi lượng khách du lịch quốc tế và nội địa tăng lên sẽ kéo theo toàn bộ hệ sinh thái, từ các cơ sở lưu trú, dịch vụ vận chuyển, chế biến thực phẩm đến vui chơi giải trí, mua sắm phát triển mạnh mẽ hơn. Thông qua đó sẽ góp phần tăng chỉ tiêu tiêu dùng từ khách du lịch quốc tế và nội địa.
Thông qua khách du lịch sẽ góp phần làm cho các lĩnh vực khác liên quan như: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… có thêm cơ hội phát triển, hoàn thiện thêm hệ sinh thái du lịch cũng như cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, từ đó đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Một điều quan trọng nữa là khi du lịch phát triển sẽ kéo theo việc tăng cường giao lưu nhân dân, quảng bá hình ảnh Việt Nam là một điểm đến an toàn, hấp dẫn, thân thiện, từ đó sẽ thu hút được các nhà đầu tư đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư.
Vậy theo ông, để du lịch thực sự trở thành “đầu kéo” cho tăng trưởng kinh tế đất nước, ngành sẽ phải giải quyết những thách thức gì?
Để du lịch trong thời gian tới bứt phá mạnh mẽ, yếu tố đầu tiên là phải đảm bảo và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ, trong đó vai trò nguồn nhân lực là then chốt.
Thứ hai, cần có cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật thuận tiện cho cung cấp các dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ cao cấp, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các thị trường khách khác nhau.
Thứ ba, quan tâm đảm bảo gìn giữ môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa, di sản, tài nguyên du lịch để phát triển du lịch một cách bền vững.
Một vấn đề quan trọng nữa mà ngành du lịch cần tiếp tục đẩy mạnh, đó là tăng cường chuyển đổi số, từ công tác quản lý nhà nước đến ứng dụng cụ thể cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao nhận thức về vai trò của du lịch, tăng cường thu hút đầu tư phát triển hạ tầng, cảng biển, sân bay, đường cao tốc… nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi hơn để ngành du lịch tăng tốc phát triển trong thời gian tới.
Vậy, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã chuẩn bị lộ trình hay ưu tiên chiến lược nào cho chặng đường tới đây, thưa ông?
Cục Du lịch quốc gia Việt Nam sẽ tập trung nghiên cứu, tham mưu ban hành các cơ chế, chính sách đột pháp để du lịch có thể có những điều kiện phát triển tốt hơn, đồng thời giải quyết những thách thức để du lịch được phát triển tương xứng với những tiềm năng vốn có của đất nước ta.
Chúng tôi sẽ cùng với các địa phương, hệ thống doanh nghiệp nghiên cứu, sáng tạo thêm những sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn, dựa trên thế mạnh của từng địa phương, của đất nước thu hút khách quốc tế đến với chúng ta.
Tiếp đến là hỗ trợ để tăng cường ứng dụng chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu ngành, giúp cho các địa phương cũng như doanh nghiệp kinh doanh thuận tiện hơn, đáp ứng được nhu cầu của du khách trong tìm kiếm các thông tin, đặt dịch vụ và kiểm soát được chất lượng của các dịch vụ đó.
Cục Du lịch quốc gia Việt Nam sẽ phối hợp các đơn vị liên quan, cơ sở đào tạo du lịch chuẩn hóa chương trình đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn nghề trong lĩnh vực du lịch, nhằm nâng cao chất lượng đầu ra nguồn nhân lực du lịch, phấn đấu đủ số lượng và đảm bảo chất lượng dịch vụ. Qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam trong thời gian tới.
Chúng tôi kỳ vọng rằng với những quyết sách của Đảng và Nhà nước, Chính phủ, cùng những nỗ lực của toàn ngành, du lịch Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định là một trong những động lực góp phần vào sự tăng trưởng của kinh tế đất nước trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 7+8-2026 phát hành ngày 16-23/02/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-78-xuan-binh-ngo.html
Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Có những vùng đất càng đi chậm càng thấy nhiều điều đáng giá. Một mái thành rêu phong ở Huế, dòng nước trong veo dưới chân Trường Sơn, hang động được gìn giữ qua triệu năm hay nếp nhà nép bên sườn núi đều có thể mở ra sinh kế mới. Nhưng giá trị không nằm ở việc đón thật đông người hay dựng thêm thật nhiều dịch vụ. Hành trình qua Huế, Sơn Đoòng và những bản làng phía Tây gợi một cách làm khác: để di sản bước vào đời sống hôm nay mà vẻ đẹp, ký ức và phần dành cho mai sau vẫn vẹn nguyên.
Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.