
Tình trạng suy giảm của thị trường chứng khoán lúc này không nên đổ cho việc phát hành của công ty, mà nên “đổ lỗi” cho khả năng hấp thụ hàng, tức là sự mất cân đối giữa quy mô phát triển thị trường với dòng tiền.
Hiện nay, hầu hết báo cáo phân tích của các công ty chứng khoán khi lý giải tình trạng giá cổ phiếu cứ rớt và chỉ số giá chứng khoán cứ giảm, trong khi kinh tế vĩ mô còn tốt, thị trường chứng khoán thế giới đang lên, đều đổ lỗi cho tình trạng cung hàng - phát hành thêm dồn dập của rất nhiều công ty niêm yết trong thời gian sắp tới. Có ý kiến còn đề nghị Ủy ban Chứng khoán phải siết chặt hơn tình trạng phát hành thêm này...
Nhưng sự thực có đáng lo ngại như vậy không?
Có lẽ nhiều người “quên” rằng, một trong những chức năng của thị trường chứng khoán, đồng thời cũng là một trong những lý do thôi thúc doanh nghiệp lên sàn là huy động vốn. Ngoài chức năng đó, việc lên sàn còn đem lại nhiều lợi ích khác cho doanh nghiệp như: được quảng cáo, dễ được quỹ đầu tư quan tâm, dễ tìm đối tác, minh bạch, lành mạnh... Xét kỹ ra, nhu cầu huy động vốn là quan trọng nhất.
Do đó mà có thể nói rằng giai đoạn 2006-2007 là thời hoàng kim không chỉ cho nhà đầu tư, mà còn cho doanh nghiệp cổ phần. Lượng vốn ngoại đổ vào thị trường chứng khoán, rồi từ đó chảy tiếp vào doanh nghiệp, không chỉ giúp ví tiền của nhà đầu tư trở thành túi ba gang, mà còn giúp doanh nghiệp gia tăng năng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh trên thương trường. Trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) không thiếu gì những công ty mà nhờ huy động vốn mà chỉ sau vài ba năm đã có quy mô (cả về doanh số và lợi nhuận) gấp nhiều lần so với trước đó.
Năm nay cũng có thể nói như báo chí đã đưa tin rằng kinh tế nước nhà đang hồi phục sau năm 2008 và tiếp đà của năm 2009. Do vậy, đứng từ góc độ doanh nghiệp, chuyện phát hành tăng vốn là hết sức bình thường. Công ty làm ăn có lãi, cần vốn để phát triển là bình thường. Công ty thua lỗ, nhưng giờ tình hình kinh tế đang cải thiện, cơ hội làm lại đã mở ra thì phát hành riêng lẻ đâu có gì sai? Có ai nói Công ty Cổ phần Nước giải khát nước Sài Gòn - Tribeco (mã TRI-HOSE) được các cổ đông lớn đóng thêm tiền là sai?
Cho nên chuyện tăng vốn của từng công ty niêm yết là không có gì sai, nếu đại hội cổ đông đã quyết và các điều kiện tăng vốn không sai luật. Tất nhiên cũng có công ty niêm yết nhân cơ hội mọi người phát hành thì cũng phát hành chứ không phải để tăng trưởng hay vì thiếu vốn, nhưng số đó không nhiều. Mỗi công ty mỗi vẻ, không thể nói là lỗ thì không cho phát hành, không thể nói là ROE lớn mới được phát hành.
Việc thống kê theo cách đếm nhẩm một lượng chứng khoán lớn như nhiều công ty chứng khoán và báo chí vừa qua (chủ yếu từ các ngân hàng sẽ cung hơn 3 tỷ cổ phiếu để lấy hơn 30 nghìn tỷ đồng từ thị trường, các công ty niêm yết cũng đang phát hành với số lượng tương đương) có lẽ là hơi vội vàng và càng không có lợi cho thị trường. Bởi tất cả các ngân hàng và công ty đó sẽ khó mà phát hành thành công được, nhất là trong bối cảnh thị trường ảm đạm như hiện nay.
Tức là hàng có cung ra, nhưng chưa chắc người ta sẽ mua hết. Chưa kể nếu có mua, có khi sẽ phải làm thỏa thuận ngoài sàn, kiểu như ngân hàng tìm kiếm đối tác chiến lược nước ngoài. Như vậy thì lượng cung hàng trên sàn sẽ giảm đi nhiều.
Thời điểm này, điều mà nhà đầu tư lo sợ không phải là nhiều công ty phát hành, mà là việc phát hành lại tập trung vào thời điểm cuối năm. Hàng dồn lại thì tất nhiên giá giảm. Ngoài hai nhóm có vẻ “thiếu” vốn trầm trọng nhất là ngân hàng (tăng vốn hoặc sáp nhập) và bất động sản (thiếu vốn cho các công trình của mình), còn có bao nhiêu nhóm ngành khác đang cần vốn? Thị trường chứng khoán khi có quá nhiều công ty đòi tăng vốn thì nhà đầu tư sẽ lo sợ không có đủ tiền đáp ứng, đó cũng là lẽ thường mà thôi.
Tình trạng suy giảm của thị trường chứng khoán lúc này không nên đổ cho việc phát hành của công ty, mà nên “đổ lỗi” cho khả năng hấp thụ hàng, tức là sự mất cân đối giữa quy mô phát triển thị trường với dòng tiền. Ai cũng muốn sàn chứng khoán có thêm hàng, nhất là “hàng hóa” của các công ty lớn mà hiện nay còn chưa chịu chuyển đổi thành cổ phần hay còn “ngúng nguẩy” chưa lên sàn, ví dụ như các công ty viễn thông, du lịch, công nghiệp...
Tuy nhiên, dòng tiền lúc này không chỉ cho thấy là đang bị thắt khi vào thị trường chứng khoán, mà còn cho thấy một điều lớn hơn rằng có lẽ chưa đủ để đáp ứng cho sự phát triển. Thị trường chứng khoán đang lại cho thấy một vấn đề nữa giống như thời điểm trước WTO: tăng trưởng nóng và thiếu tiền.
Tháng 11/2006, vấn đề này đã từng được giải quyết nhờ dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài, còn bây giờ thì cho dù vẫn có ý chờ vào vốn ngoại, nhưng có lẽ vốn ngoại sẽ không còn ào ạt như trước. Còn tiềm năng của dòng vốn nội vẫn còn lớn lắm, nếu theo dõi các hoạt động mua bán đất đai nhà cửa, các giao dịch vàng và forex hiện vẫn đang được thực hiện trong giới đầu tư. Lúc này sàn vàng vẫn chưa được cấp phép, sàn bất động sản thì đang chững lại, đó cũng là “tin tốt” cho thị trường chứng khoán.
Làm sao phải khơi thông được dòng vốn nội, đó mới là vấn đề của thị trường.




Việc dòng tiền đảo chiều tại thị trường Mỹ cho thấy nhà đầu tư có xu hướng thận trọng hơn với nhóm cổ phiếu tại thị trường phát triển này.
Tính đến ngày 30/9/2026, hiệu suất PYN Elite âm 12,67% từ đầu năm. Trong vòng 12 tháng, hiệu suất của quỹ âm 19,47%.
Lumen Vietnam Fund duy trì quan điểm tích cực trong dài hạn đối với thị trường cổ phiếu Việt Nam, đồng thời nhìn nhận giai đoạn tích lũy hiện tại là cơ hội tích lũy hấp dẫn, thay vì dấu hiệu cho thấy xu hướng tăng trưởng mang tính cấu trúc đã thay đổi.
Theo một khảo sát năm 2026, trên 1.000 nhà đầu tư cá nhân, tiền gửi tiết kiệm chiếm bình quân 37% danh mục, bất động sản 36%, vàng 14%. Cộng lại, ba kênh truyền thống này chiếm tới 87% tổng tài sản.
Với mục tiêu tăng trưởng GDP của Chính phủ từ 10% trở lên trong năm 2026 và tiếp tục duy trì định hướng tăng trưởng cao trong các năm tới, nhu cầu vốn của nền kinh tế sẽ ở mức rất lớn trong trung và dài hạn.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.