
Theo một dự báo mới đây của Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích dữ liệu tài chính (GAFIN), kim ngạch xuất khẩu cá tra của Việt Nam năm 2015 có thể vượt 2,5 tỉ USD, và đến 2020 sẽ đạt 3,6 tỉ USD.
Đầu ra ổn định
Đằng sau những mô hình tính toán, cơ sở để GAFIN đưa ra dự báo này là nhu cầu với cá tra được đánh giá vẫn còn tăng trưởng trong xu hướng chung trên thị trường thế giới.
Thứ nhất, sự phát triển mạnh mẽ của ngành nuôi trồng đã hạ mức giá của thủy sản xuống từ phân khúc tiêu thụ cao cấp về phân khúc tiêu thụ trung bình. Trong khi tăng trưởng kinh tế thế giới làm số người thuộc tầng lớp có thu nhập trung bình tăng lên nhanh chóng.
Thứ hai, xu hướng tăng cường nhập khẩu và đẩy khâu sản xuất ra bên ngoài của các nước phát triển do phí môi trường, giá nhân công lao động cao và các chính sách hạn ngạch đánh bắt đã tạo ra nhu cầu lớn cho các sản phẩm nuôi từ các nước đang phát triển.
Thứ ba, người tiêu dùng những năm gần đây có xu hướng lựa chọn thủy sản nhiều hơn, trong bối cảnh các nguồn protein khác đang gặp khủng hoảng với các vụ ngộ độc thực phẩm và dịch bệnh.
Nhìn chung, xu hướng tiêu thụ của thị trường thế giới đang đảm bảo cho cá tra Việt Nam một đầu ra ổn định, ít nhất là về mặt nhu cầu.
Thách thức mấu chốt
Nhưng có lẽ trước khi mơ mộng đến con số dự báo 3,6 tỉ USD và thậm chí có thể hơn vào năm 2020, ngành công nghiệp cá tra của Việt Nam cần phải tìm được cách giải quyết những vấn đề nội tại.
Bởi hiện nay, quy mô sản lượng mở rộng quá nhanh, không có sự phát triển tương xứng về mặt tổ chức đã làm cấu trúc ngành bị phá vỡ, gây ra nhiều hệ lụy không mong muốn, trong đó yếu tố lớn nhất là sự "đứt gãy" giữa khâu sản xuất nguyên liệu và chế biến.
Tại hội thảo “Cá tra Việt Nam - tầm nhìn 2015: Xu hướng xuất khẩu, phân tích lợi thế cạnh tranh”, do Ủy ban Cá nước ngọt thuộc Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) chủ trì vừa qua tại Tp.HCM, một trong những chủ đề chính được lựa chọn cho năm đầu tiên của hội nghị thường niên này là phát triển bền vững.
Tại đây, TS. Nguyễn Thị Hồng Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản (cũ), đã để cập đến gói giải pháp phát triển bền vững ngành cá tra, với ý tưởng chủ chốt là cần phải đưa việc quản lý về cho các hội, các tổ chức cộng đồng, thay cho cơ chế quản lý tập trung không hiệu quả hiện nay.
Từ kinh nghiệm thực tế từ các mô hình như ủy ban cá hồi Na Uy, Chile hay ủy ban cognac của Pháp, TS. Minh đề xuất gói giải pháp tổ chức quản lý cho cá tra Việt Nam với những điểm rất cụ thể, như cơ chế bắt buộc người nuôi phải tham gia vào một tổ chức cộng đồng, vừa đảm bảo có sự bảo vệ khi cần thiết, vừa đảm bảo sự ràng buộc trách nhiệm với cộng đồng.
Bà nhấn mạnh, cần thay đổi quan niệm về tự do kinh doanh. Khái niệm này phải được đặt trong điều kiện không được ảnh hưởng tới cộng đồng chung, mỗi cá nhân, tổ chức tham gia kinh doanh phải có trách nhiệm với cộng đồng kinh doanh mà mình tham gia.
Bởi vì, "thực tế cho thấy, những hành vi thiếu trách nhiệm của một vài cá nhân hay tổ chức trong ngành nuôi cá tra đã làm tổn hại để cả một cộng đồng lớn. Hình ảnh con cá tra bị bôi xấu, giá cá liên tục giảm, trong khi người nuôi phải bỏ đầm là hậu quả chúng ta phải gánh chịu", bà Minh nói.
Lựa chọn bổ sung
Theo thống kê mới nhất của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO), sản lượng cá nước ngọt Việt Nam hiện đứng thứ 3 thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ.
Với ưu thế về quy mô như vậy, giả sử nếu được tổ chức tốt, khâu chế biến nguyên liệu khó có khả năng thua trên sân nhà. Trong khi đó, việc mở cửa sẽ gia tăng sức ép cải thiện chất lượng lên khu vực sản xuất nguyên liệu trong nước để cạnh tranh với nguyên liệu nhập - thường phải chịu rất nhiều quy định ngặt nghèo về khả năng truy xuất nguồn gốc, nhưng lại trở thành yếu tố mang khả năng cạnh tranh trong toàn cầu mới.
Để gia tăng giá trị giữ lại của sản phẩm, nhiều người đã để cập đến hướng đi chế biến. Tuy nhiên, trong bài trình bày tại hội nghị của mình, đại diện GAFIN, ông Trương Trí Vĩnh cho rằng việc cố gắng đẩy sản phẩm đi xa hơn trên chuỗi giá trị dưới dạng hàng chế biến, trong khi chưa thể tiếp cận đến các hệ thống bán lẻ và người dùng cuối cho đến nay đã cho thấy khó có hiệu quả.
Cụ thể, ông nhìn nhận, tỉ lệ lợi nhuận sẽ không quyết định bởi dạng sản phẩm đến gần người dùng cuối thế nào, mà quyết đinh bởi hàm lượng chất xám trong sản phẩm. Khi đề cập đến giá trị thu về cao của hàng chế biến, nhiều người đã bỏ qua những giá trị mang lại từ hệ thống phân phối và lưu kho hiệu quả hay đầu tư nghiên cứu thị hiếu người dùng cuối, trong khi, đó mới thực sự là cốt lõi của tỉ lệ lợi nhuận cao.
Bởi vậy, gia tăng giá trị bằng việc đầu tư công nghệ mới để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao, gia tăng hệ số thu hồi sản phẩm, hướng đi nhiều doanh nghiêp như Vĩnh Hoàn, Hùng Vương hay Agifish lựa chọn là một cách tiếp cận thực sự đúng hướng và cần được ủng hộ, ông Vĩnh kết luận.
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Dù kim ngạch xuất khẩu cao, cà phê Robusta Việt Nam vẫn chủ yếu được biết đến như nguồn nguyên liệu cho các nhà rang xay quốc tế. Để thoát vai “làm nền”, ngành cà phê cần thu hẹp khoảng trống về thương hiệu, nâng cao giá trị chế biến và tăng cường liên kết trong chuỗi cung ứng…
Với tỷ trọng xuất khẩu qua thương mại điện tử năm 2025 mới chỉ đạt 0,48% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, dư địa phát triển xuất khẩu qua kênh này còn rất lớn. Nhưng nghịch lý, số doanh nghiệp đầu tư bài bản cho xuất khẩu xuyên biên giới rất ít, còn thiếu tự tin…
Việc Malaysia công nhận 5 tổ chức, doanh nghiệp cấp chứng nhận Halal của Việt Nam mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa trong nước tiếp cận thị trường này, đồng thời thâm nhập sâu vào chuỗi cung ứng Hồi giáo toàn cầu...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.