Trong một cuộc trao đổi với trang Kitco News, ông Avi Gilburt, nhà sáng lập công ty ElliottWaveTrader, nói rằng xu hướng tăng của giá vàng kể từ mức đáy thiết lập vào năm 2015-2016 đang đi đến giai đoạn cuối. Giá vàng vẫn có khả năng tăng thêm trong những tháng sắp tới, nhưng ông tin rằng nhà đầu tư nên chuẩn bị sẵn sàng cho một đợt điều chỉnh kéo dài nhiều năm.
“Đây không phải là sự khởi đầu của một thứ gì đó mới. Đây có thể là sự kết thúc của một chu kỳ rất dài”, ông Gilburt nói.
Nhà phân tích kỹ thuật này từng dự báo gần như chính xác mức đỉnh của giá vàng vào năm 2011, với chênh lệch chỉ vài USD, và thời điểm chạm đáy của giá vàng vào năm 2015, với chênh lệch chỉ vài ngày. Ông tin rằng đợt tăng hiện nay của giá vàng có gốc rễ từ một đợt thiết lập lại trên thị trường từ sau năm 2015, sau quãng thời gian nhiều năm các quỹ ETF liên tục bán ròng và mối quan tâm của nhà đầu tư đối với vàng suy giảm. Chu kỳ tăng giá này, hiện đã đạt gần 10 năm, dường như đang cạn dần xung lực.
“Tôi tin thị trường đang bước vào giai đoạn kết thúc của chu kỳ. 2026 có thể sẽ đánh dấu sự chấm hết của chu kỳ tăng giá kéo dài của vàng và bạc, đồng thời khởi động một thời kỳ thị trường giá xuống kéo dài nhiều năm”, ông nói.
Dự báo này có thể gây ngạc nhiên đối với các nhà đầu tư xem kim loại quý là một sự phòng hộ dài hạn cho danh mục của họ, ông Gilburt giải thích rằng giá kim loại chuyển động theo những làn sóng về cơ bản không phụ thuộc vào các kịch bản vĩ mô phổ thông.
Trong những phiên giao dịch gần đây, giá vàng dao động quanh ngưỡng 4.300 USD/oz. Ông Gilburt nhận định diễn biến giá vàng trong ngắn hạn tùy thuộc vào một cuộc chiến kỹ thuật quan trọng. Ông cho biết đang theo dõi chặt chẽ ngưỡng kháng cự quan trọng 4.383 USD/oz, mức giá mà nếu không vượt qua được, vàng có khả năng sụt về vùng 3.800 USD/oz.
Nhưng một cú giảm như vậy không hẳn là dấu hiệu của sự kết thúc chu kỳ tăng. “Nếu xảy ra, đó là cơ hội tuyệt vời để mua vào, vì sau đó sẽ là một đợt tăng mạnh mẽ hơn trước khi chu kỳ tăng hoàn toàn kết thúc”, ông nói.
Nếu vượt được ngưỡng kháng cự nói trên, giá vàng có thể tiến gần tới mốc tâm lý 5.000 USD/oz và lập đỉnh ở đó - ông Gilburt nói. Dù điều gì xảy ra, ông cũng tin rằng một đợt tăng cuối cùng của giá vàng sẽ được tiếp nối bằng một thời kỳ điều chỉnh kéo dài có thể đưa vàng về vùng 2.000 USD/oz sau vài năm.
Như thường lệ, giá bạc đang có mức độ biến động lớn hơn. Ông Gilburt cho biết giá bạc đã đạt được cận dưới trong khoảng mục tiêu dài hạn của ông, và miễn là giữ được mức hỗ trợ, giá bạc vẫn còn dư địa để tăng. “Tôi không nghĩ rằng giá bạc đã tăng hết cỡ. Mục tiêu lý tưởng của tôi là 75-80 USD/oz”, ông nói.
Ông nhận định liệu giá bạc có đạt đến vùng đó hay không sẽ tùy thuộc vào việc liệu thị trường sẽ diễn biến như thế nào trong những ngày cuối năm. Một sự thoái lui có kiểm soát về vùng 43-47 USD/oz có thể tạo ra cấu trúc kỹ thuật cần thiết cho một đợt tăng bùng nổ cuối cùng. “Nếu giá bạc đạt được mức 75-80 USD/oz, đó có thể là đỉnh giá cuối cùng”, ông nói.
Một cú tăng theo đường parabol như vậy sẽ lặp lại hình thế tăng của giá bạc vào năm 2010-2011, và chính sự so sánh này đã khiến ông Gilburt trở nên lạc quan vào giá bạc trong năm nay, khi đợt tăng hiện tại bắt đầu tăng tốc.
Dự báo mà ông Gilburt đưa ra về giá vàng và giá bạc năm 2026 đi ngược quan điểm chung của phần lớn các nhà phân tích, khi đa số chuyên gia tin giá hai kim loại quý này sẽ duy trì xu hướng tăng trong suốt năm tới trên cơ sở các yếu tố nền tảng thuận lợi. Ông Gilburt phủ nhận vai trò của các yếu tố nền tảng đó.
“Các yếu tố nền tảng thực sự không có nhiều vai trò. Đó chỉ là những yếu tố tác động ngẫu nhiên mà thôi”, ông nói.
Ông Gilburt đề cập đến giai đoạn sau năm 2011 như một bằng chứng cho nhận định này. Dù tương quan cung - cầu khi đó được đánh giá là có lợi cho giá vàng, cộng thêm chính sách tiền tệ nới lỏng, nhưng giá vàng vẫn giảm trong mấy năm liên tiếp. Ngoài ra, vai trò “hầm trú ẩn” của vàng trong các cuộc khủng hoảng cũng không phải lúc nào cũng được phát huy.
“Điều gì đã xảy ra với vàng trong cuộc khủng hoảng 2008? Giá vàng đã giảm hơn 30% khi thị trường chứng khoán lao dốc”, ông Gilburt nói.
Nhà phân tích này lập luận rằng giá vàng có chu kỳ riêng và nhà đầu tư bỏ qua thực tế đó có thể phạm sai lầm. Ông không khuyên nhà đầu tư từ bỏ việc nắm giữ vàng và bạc, nhưng cần hiểu được giá kim loại quý đang ở vào giai đoạn nào của chu kỳ. Ông nhận định những tháng sắp tới có thể là một cơ hội cuối cùng để đầu cơ giá lên kim loại quý, nhất là bạc. Sang năm 2026, cán cân rủi ro và cơ hội có thể trở nên rất khác - ông nhấn mạnh.
Lịch sử cho thấy thời điểm rủi ro nhất trên thị trường kim loại quý có thể chính là lúc khi niềm tin ở mức cao nhất, tức là ngay trước khi chu kỳ đảo chiều. Và nếu ôn Gilburt dự báo đúng, năm 2026 có thể là một cuộc thiết lập lại trên thị trường này.
Lạm phát ở Mỹ thường có khuynh hướng gây bất lợi cho đảng cầm quyền trong các cuộc bầu cử. Vào các năm 2022 và 2024, giá cả leo thang chính là "gót Achilles" của Đảng Dân chủ...
Thụy Sỹ, Singapore và Na Uy lần lượt đứng đầu theo ba cách tính GDP bình quân đầu người, tùy việc có điều chỉnh theo chênh lệch giá cả và thời gian làm việc hay không…
Nga cam kết cung cấp thêm dầu diesel theo thỏa thuận với Tổng thống Mỹ Donald Trump, nhưng giới phân tích hoài nghi về khả năng đáp ứng của nước này khi hoạt động lọc dầu liên tục bị gián đoạn bởi các cuộc tấn công của Ukraine…
Tây Ban Nha từ lâu gắn liền với tỷ lệ thất nghiệp cao, nhưng Phần Lan hiện đã vượt quốc gia này để trở thành nước có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất châu Âu…
Hiện tại, mối quan tâm của nhà đầu tư còn đang hướng tới Italy, quốc gia với kế hoạch ngân sách mới gây nhiều tranh cãi...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.