
Ngoài việc hứng chịu những truyền thông bôi xấu ở châu Âu, kể từ 1/9/2017, xuất khẩu cá tra vào thị trường Mỹ sẽ chịu sự giám sát nghiêm ngặt của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA).
Sau khoảng thời gian chuyển tiếp 18 tháng, từ ngày 1/9/2017, cá tra nhập khẩu vào Mỹ sẽ tuân theo các quy định như các sản phẩm cá da trơn sản xuất tại Mỹ, và sẽ chịu sự giám sát nghiêm ngặt của Bộ nông nghiệp nước này.
Sản phẩm cá tra Việt Nam đang xuất khẩu sang 160 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với giá trị xuất khẩu chiếm khoảng 1,6 - 1,7 tỷ USD/năm. Song, cá tra cũng chính là đối tượng chịu nhiều rào cản nhất trong số sản phẩm thủy sản xuất trên thế giới.
Nhiều rào cản thương mại
Từ năm 2003, Ủy ban Thương mại Mỹ đã ra phán quyết áp thuế chống bán phá giá lên sản phẩm cá tra Việt Nam, đến nay vẫn còn thực hiện. Thời gian gần đây, trước áp lực của Hội người nuôi cá nheo, chính quyền Mỹ một lần nữa dựng rào cản với cá tra Việt Nam bằng việc thiết lập chương trình giám sát đối với các loài cá thuộc bộ Siluriformes, trong đó có cá tra của Việt Nam, và chuyển sự giám sát từ Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA) sang USDA.
Như vậy, các quy định về thanh tra cá tra sẽ tăng thêm và Việt Nam phải cung cấp các tài liệu để chứng minh hệ thống kiểm tra trong nước tương đương với Mỹ. Là một trong những thị trường nhập khẩu quan trọng nhất đối với cá tra, nên việc đáp ứng các yêu cầu mới của Mỹ là điều cần thiết.
Các yêu cầu này liên quan đến toàn bộ chuỗi cung ứng từ cá giống, trại sản xuất giống, trại nuôi, nhà máy chế biến đến các chương trình về chất lượng nước và dư lượng hóa chất.
Ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, hiện tại cá tra xuất khẩu sang Mỹ được kiểm soát bởi FDA. Nhưng kể từ 1/9, Ban Quản lý thực phẩm nông nghiệp an toàn và dịch vụ kiểm soát (FSIS) thuộc USDA sẽ kiểm tra tất cả các quy trình tạo ra sản phẩm cá tra, từ khâu con giống đến sản phẩm cuối cùng.
Để được tiếp tục xuất khẩu cá tra sang Mỹ, Việt Nam phải đưa ra một hệ thống những tiêu chuẩn được phía Mỹ xem xét là tương đương với phía Mỹ và căn cứ trên đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ làm theo.
Việt Nam có 45 nhà máy đủ điều kiện xuất khẩu vào Mỹ theo chương trình thanh tra cá da trơn, nhưng hiện chỉ có những doanh nghiệp có lợi thế về thuế chống bán phá giá thấp vẫn tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu cá tra sang Mỹ.
Theo thống kê sơ bộ của Hải quan Việt Nam, giá trị xuất khẩu cá tra 4 tháng đầu năm 2017 đạt 507,071 triệu USD. Trong đó, 3 thị trường lớn gồm: Trung Quốc đạt 101,396 triệu USD, tăng 56,2% so với cùng kỳ 2016; Mỹ đạt 84,532 triệu USD, giảm 25% so với cùng kỳ; Liên minh châu Âu (EU) đạt 65,170 triệu USD, giảm 23,8% so với cùng kỳ 2016.
Cạnh tranh không lành mạnh tại EU
Dù được khẳng định là một trong những ngành thủy sản được kiểm soát chặt chẽ nhất trên thế giới, Việt Nam sẵn sàng hợp tác toàn diện hơn để tiếp tục duy trì sản lượng cá tra xuất khẩu sang Mỹ.
Tuy nhiên, điều này lại xảy ra vào thời điểm cá tra tiếp tục bị cạnh tranh quyết liệt ở châu Âu (EU). Trong vài tháng gần đây, bộ phim tài liệu bôi xấu cá tra Việt Nam đã được phát sóng ở Tây Ban Nha...
Theo ông Mag. Karim Ben Romdhane, Nhà phân tích thủy sản và Chương trình phát triển cá WWF Áo, tại thị trường EU không chỉ cá tra Việt Nam, mà có nhiều sản phẩm cá thịt trắng đến từ các nước trên thế giới, khiến cá tra bị cạnh tranh gay gắt và liên tục bị bôi xấu.
Truyền thông bôi xấu chỉ xảy ra ở một số nước như Tây Ban Nha, có thể do cạnh tranh không lành mạnh của một số doanh nghiệp, hoặc có thể do Tây Ban Nha muốn bán một số sản phẩm của đất nước họ.
“Để cá tra tiêu thụ tốt tại thị trường EU, WWF Áo đã tổ chức những chuyến đi thăm thực địa tại những nhà nhập khẩu, giúp họ hiểu biết về nghề nuôi cá tra ở Việt Nam. Suốt 3 năm qua, chúng tôi luôn có mặt tại triển lãm toàn cầu về hải sản, và trưng bày tất cả thông tin về cá tra Việt Nam đến các nhà báo, blogger và đại diện nghề cá ở EU, nhằm giúp nhà nhập khẩu có thêm thông tin và có quyết định trong việc chọn lựa sản phẩm cá tra được cấp chứng chỉ này”, ông Mag. Karim Ben Romdhane chia sẻ.
Hiện hầu hết các công ty xuất khẩu cá tra đều phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm (ATTP) quốc tế. Trên thực tế, hệ thống quản lý chất lượng và quản lý ản toàn thực phẩm của họ không khác gì so với các đối tác EU và Mỹ. Điều này được xác nhận bằng nghiên cứu khoa học của một nhóm nghiên cứu từ Đại học Wageningen được công bố trên tạp chí “Reviews in Aquaculture” năm 2016.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.