
Hiện tại, ngành dệt may các nước ASEAN đều hoạt động độc lập, tuy nhiên về lâu dài mọi người cũng đã nghĩ đến việc nắm tay nhau để cùng vận hành một cỗ máy chung.
Trong thời gian qua, chính phủ mỗi nước đều đã có những chính sách để hỗ trợ cho ngành dệt may vượt qua và ổn định sản xuất trong thời kỳ khó khăn do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu.
Xuất khẩu hàng dệt may nhiều nước sụt giảm
Như ý kiến của các nhà lãnh đạo ngành dệt may, các nước trong khu vực ASEAN cần ngồi lại với nhau để chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau và tìm ra phương hướng giúp ngành dệt khu vực phát triển bền vững.
Trong cuộc tọa đàm về sự hợp tác của ngành dệt may trong Hiệp hội Dệt may khu vực Đông Nam Á (AFTEX) gồm: Campuchia, Indonesia, Lào, Singapore, Thái Lan và Việt Nam, cùng 4 nước ngoài hiệp hội là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc và đại diện Hiệp hội Thời trang Châu Á (AFF) diễn ra tại Tp.HCM mới đây, đại diện của các hiệp hội dệt may và thời trang của các nước đều nhận định rằng tình hình sản xuất dệt may đang rất khó khăn, tùy theo tình hình điều kiện riêng của từng nước nhưng nhìn chung ngành dệt may các nước đang đối mặt với hoạt động xuất khẩu sụt giảm, nhiều người lao động trong ngành bị mất việc làm, giá đơn hàng thấp, giá trị đơn hàng thu nhỏ lại, hoạt động thanh toán chậm chạp...
Chẳng hạn như trong quý 1/2009, Singapore có tỷ lệ sụt giảm đơn hàng gia công ở mức từ 30-40%. Ở Thái Lan, xuất khẩu dệt may giảm đến 40%, quy mô các đơn hàng nhỏ lẻ, giá cả sụt giảm và thị trường tiêu thụ nội địa cũng giảm từ 20%-30% so với cùng kỳ.
Tại Nhật, các nhà dệt may phải đa dạng hóa sản phẩm trên chủng loại vải để tồn tại, đóng cửa bớt các cửa hiệu kinh doanh. Ở Trung Quốc doanh số của ngành không giảm nhưng giá cả lại giảm rất nhiều.
Đối với Việt Nam, quý 1/2009 kim ngạch xuất khẩu của dệt may cũng giảm so với cùng kỳ năm trước với giá trị xuất khẩu chỉ đạt 1,9 tỷ USD.
Hướng đến lập "xưởng may chung"
Ngành dệt may các nước ASEAN đang đặt ra mục tiêu tiến tới biến khu vực thành phân xưởng sản xuất dệt may của thế giới. Như đánh giá, sự hợp tác của ngành dệt may các thành viên không chỉ giúp ngành dệt may khu vực phục hồi nhanh chóng mà còn đạt được sự tăng trưởng thương mại trong vùng lên gấp đôi vào năm 2015 so với hiện nay.
Như nhận định của ông R.J.Gurley, Giám đốc Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực ASEAN cho rằng dệt may là ngành kinh tế tiềm năng của ASEAN. Mỗi quốc gia trong khu vực đều có lợi thế riêng biệt.
Chẳng hạn như, Thái Lan và Indonesia có lợi thế về nguồn nguyên liệu trong khi Việt Nam, Campuchia và Lào lại rất mạnh trong lĩnh vực lắp ráp và may mặc.
Nếu các thành viên trong khối phối hợp lại thì không chỉ xây dựng được thương hiệu riêng cho bản thân từng quốc gia mà còn tạo nên được giá trị chung cho ngành sản xuất của cả khu vực.
Vì vậy, các nước có thể bàn bạc để hình thành chuỗi liên kết cung ứng và sản xuất, khi đó Thái Lan và Indonesia cung cấp nguyên liệu cho Việt Nam, Campuchia và Lào để các nước này tạo ra sản phẩm và bán cho cả thế giới, ông Gurley đã phát biểu như vậy.
Theo nhìn nhận của ông Van Sou Leng, Chủ tịch Hiệp hội các nhà sản xuất hàng may mặc Campuchia, nếu doanh nghiệp dệt may các nước trong khối hợp tác với nhau thì giá trị của sản phẩm sẽ không còn bị ép giá thấp như hiện nay.
Để ngành dệt may vượt qua được khó khăn hiện tại và hướng đến sự phát triển bền vững trong tương lai, bà Su Bao Yon, phụ trách về thị trường may mặc nội địa Hiệp hội Dệt may Trung Quốc cho rằng ngành dệt may các nước cần nghiên cứu đến việc cải cách mẫu mã thời trang, nghiên cứu xu hướng thời trang của các thị trường nhập khẩu từ đó để đáp ứng được những hàng hóa thích hợp.
Bên cạnh đó, đổi mới cách hoạt động để cung ứng cho khách hàng những dịch vụ tốt hơn, cũng như thay đổi phương thức cạnh tranh, tái cấu trúc lại các chuỗi cung ứng thông qua việc giữ chân khách hàng cũ và đặt mới quan hệ với những khách hàng mới.
Ngành thời trang Việt Nam cũng đang từ bước hội nhập sâu hơn vào ngành dệt may thời trang của khu vực. Dự kiến trong tháng 11/2009 này, Việt Nam sẽ được kết nạp vào AFF, một điều kiện để ngành dệt may và thời trang Việt Nam tăng tốc, từ đó sẽ hỗ trợ mạnh mẽ cho họat động sản xuất và tăng trưởng về xuất khẩu của ngành.
Hiện tại, ngành thời trang Việt Nam vẫn còn khá "đuối sức", thể hiện rõ nhất là các thương hiệu sản phẩm may mặc nội địa còn khá mờ nhạt ngay tại thị trường trong nước. Hiện tại có ít doanh nghiệp may mặc trong nước thành công trên sân nhà.
Gỗ và sản phẩm gỗ là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, những vướng mắc trong xác định nguồn gốc gỗ rừng trồng nhập khẩu, phân loại gỗ sơ chế và xử lý thuế VAT đang khiến doanh nghiệp phát sinh chi phí, tồn đọng vốn và gặp khó trong kế hoạch sản xuất...
Việc kết nối hạ tầng và phối hợp nguồn lực giữa hai cảng nước sâu liền kề tại Cái Mép - Thị Vải vừa qua đã mở ra hướng khai thác hiệu quả hơn năng lực hiện hữu trong bối cảnh các hãng tàu ngày càng yêu cầu cao về quy mô tiếp nhận và năng suất xếp dỡ.
Theo Ủy ban châu Âu (EC), tổng giá trị năng lượng Nga mà EU đã mua kể từ năm 2022 vào khoảng 209 tỷ USD, thấp hơn 112 tỷ USD so với con số mà phía Moscow công bố, trong bối cảnh khối này đẩy mạnh giảm phụ thuộc vào nguồn cung năng lượng từ Nga…
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.