
Xuất khẩu lao động đang đứng trước nguy cơ không đạt được chỉ tiêu đưa 85.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài trong năm 2010 khi 9 tháng đầu năm mới chỉ đạt hơn 68% kế hoạch.
Thiếu người hay thiếu đơn hàng?
Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và xã hội) cho biết, 9 tháng đầu năm 2010, Việt Nam đã đưa được 58.710 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt trên 68% kế hoạch năm.
Trong đó, thị trường tiếp nhận chủ yếu vẫn là Đài Loan với 20.621 người; Malaysia 6.113 người; UAE 4.823 người; Lào 4.681 người; Hàn Quốc 3.708 người; Nhật Bản 3.441 người; Libya 3.910 người, Ả rập Xê út 2.071 người, Macao 2.457 người, Bahrain 1.204 người, Campuchia 2.505 người và các thị trường khác là 3.176 người.
Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực này nhận định, để hoàn thành 32% kế hoạch trong 3 tháng còn lại của năm 2010 là rất khó. Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2010 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2011 của Chính phủ cũng nêu con số dự ước, chỉ tiêu xuất khẩu lao động năm 2010 ước khoảng 80 nghìn người, chỉ đạt khoảng 94% so với kế hoạch.
Nhìn nhận ở góc độ nhà quản lý, ông Đào Công Hải, Phó cục trưởng Cục quản lý lao động ngoài nước cho rằng, nguyên nhân dẫn đến chỉ tiêu có nguy cơ bị “vỡ” do tốc độ phục hồi của nền kinh tế thế giới sau khủng hoảng còn chậm. Tuy nhiên, ông Hải tỏ ra rất lạc quan vào những tháng cuối năm, thị trường lao động ngoài nước đã có những chuyển biến rất tốt, nhu cầu tiếp nhận lao động nhập cư tăng trở lại. Vì thế, nguyên nhân chính theo ông vẫn là không tạo được nguồn lao động để đáp ứng các đơn hàng.
Ông Hải lấy dẫn chứng tại một số thị trường đơn hàng nhiều, thu nhập khá cao nhưng không tuyển được lao động. Ví dụ Malaysia: từ 3 đến 6 triệu đồng/tháng; Lybia, UAE và Arab Saudi: từ 5,5 đến 6,5 triệu đồng/tháng nhưng số lượng mà doanh nghiệp cung ứng cho chủ sử dụng nước ngoài vẫn chỉ “nhỏ giọt”.
Thế nhưng, theo ông Nguyễn Xuân An, Phó chủ tịch, Tổng thư ký Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam, thị trường tiếp nhận lao động “tích cực” nhất của Việt Nam hiện nay chỉ xoay quanh Đài Loan, Trung Đông, Malaysia, Libya.
Ngoài Đài Loan các doanh nghiệp vẫn đưa đi được với số lượng lớn thì ba thị trường còn lại không mấy “hấp dẫn”, số lượng lao động tham gia rất ít. Đặc biệt là Libya, nhiều công trình xây dựng đang bị chững lại, nhu cầu tiếp nhận lao động giảm đi nhiều.
“Một thị trường tiếp nhận lao động mới nổi thu nhập khá cao là thị trường Israel. Tuy nhiên, sức tiêu thụ lao động của thị trường này không nhiều, khoảng 500 đến 700 lao động/năm. Như vậy, nếu tính bình quân, mỗi tháng cũng chỉ đưa đi được vài chục lao động”, ông An nói.
70 – 80% lao động không được tuyển dụng trực tiếp
Báo cáo của Đoàn giám sát Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cho biết, một số xã phản ánh 70-80% người lao động không được tuyển dụng trực tiếp bởi doanh nghiệp xuất khẩu lao động về tư vấn, tuyển dụng tại địa phương mà là được tuyển dụng qua môi giới.
Chủ tịch một xã thuộc huyện Thường Xuân, Thanh Hóa cho rằng, hiện tượng các tổ chức, cá nhân không có chức năng xuất khẩu lao động mượn danh của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động lừa đảo, chiếm đoạt tiền của lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài là một trong những lý do khiến lao động “e dè”. Đặc biệt là doanh nghiệp có hợp đồng cung ứng lao động ở thị trường có thu nhập cao ít khi về trực tiếp tuyển lao động tại địa phương.
Trao đổi với VnEconomy, cán bộ tạo nguồn của một doanh nghiệp xuất khẩu lao động "tiết lộ", chi phí để về tận huyện, xã tổ chức một buổi tuyên truyền và sau đó cho cán bộ về tạo nguồn là rất tốn kém và khó chịu vì thường bị “quan xã” gây khó dễ. Trong khi đó, làm việc qua trung gian rất hiệu quả, chúng tôi có sẵn quy chế rồi, cứ chi từ 1 đến 1,5 triệu đồng/lao động .
Nhiều lao động cũng phản ánh, liên hệ, tìm hiểu thông tin đi xuất khẩu lao động tại cơ quan nhà nước rất rườm rà, cán bộ hướng dẫn thì kém nhiệt tình nên thiếu cụ thể.
Trao đổi về vấn đề này, ông Đào Công Hải thừa nhận công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động vẫn còn bất cập. Vẫn còn tình trạng doanh nghiệp xuất khẩu lao động vi phạm các qui định của pháp luật và hiện tượng lừa đảo người lao động vẫn diễn ra nhưng đấy không phải là nguyên nhân chính.
Thực tế, nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài để cải thiện cuộc sống vẫn là "mong ước cháy bỏng" của lao động ở nhiều địa phương trên cả nước. Quan trọng là cách tuyên truyền, cung cấp thông tin chính thống và sự phối hợp giữa chính quyền địa phương cùng doanh nghiệp đến đâu để người dân tin tưởng.
Tại Chương trình kỷ niệm 195 năm Ngày thành lập tỉnh Thái Nguyên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh Thái Nguyên cần phấn đấu là địa phương có hạ tầng đồng bộ, quản trị hiện đại và chất lượng sống ngày càng cao.
Để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, các đại biểu Quốc hội đề xuất nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông các nguồn lực, giảm chi phí sản xuất, kinh doanh và tạo động lực phát triển doanh nghiệp bền vững...
Đối với khoản tiền đặt cọc mua nhà ở hình thành trong tương lai, khoản tiền giữ lại khi người mua chưa được cấp giấy chứng nhận, các đại biểu Quốc hội đề nghị kiểm soát theo đúng bản chất giao dịch, làm rõ điều kiện giải tỏa và trách nhiệm hoàn trả khi phát sinh rủi ro…
Phân tích về bài toán an ninh năng lượng quốc gia, Đại sứ Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nhấn mạnh tầm quan trọng của ngoại giao kinh tế, lợi thế chiến lược "friend-shoring" và việc hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm thu hút đầu tư quốc tế, tạo động lực vững chắc cho sự phát triển bền vững của ngành dầu khí Việt Nam...
Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026 đã mở thêm các kết nối đầu tư, tài chính và hợp tác quốc tế cho TP.HCM. Hiệu quả của nó sẽ được đo bằng tiến độ triển khai và những giá trị cụ thể tạo ra cho Thành phố.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Năm 2027, tổng nguồn cung đất san lấp, đá và cát xây dựng tại Thanh Hóa dự kiến đạt hơn 42 triệu m3. Việc đưa thêm các mỏ vào khai thác, kết hợp nguồn vật liệu từ các dự án thu hồi khoáng sản và sản xuất cát nhân tạo được kỳ vọng góp phần giảm áp lực thiếu hụt vật liệu phục vụ các công trình, dự án trên địa bàn.