
Ông Vương Bình Thạnh, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh An Giang đề xuất nên giao chỉ tiêu cho các tỉnh, để các tỉnh chủ động lượng gạo xuất khẩu hàng năm và đồng thời gắn với an ninh lương thực quốc gia.
Bởi, theo ông công tác điều hành trong xuất khẩu gạo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) là chưa công khai minh bạch, còn nhiều điểm chưa hợp lý.
Là lãnh đạo của một tỉnh có sản lượng lúa lớn nhất nước, ông nhận định thế nào về công tác điều hành xuất khẩu gạo của VFA năm nay?
Từ trước tới nay công tác xuất khẩu gạo luôn gắn với an ninh lương thực quốc gia. Mỗi năm đồng bằng sông Cửu Long sản xuất ra khoảng 10 triệu tấn lúa hàng hoá. Tỷ lệ của 10 triệu tấn lúa hàng hoá ở đồng bằng sông Cửu Long tương đương với 5 triệu tấn gạo xuất khẩu, điều đó ai cũng biết.
Điều quan trọng ở đây là nhiệm vụ của VFA, họ phải điều hành tiêu thụ lúa, gạo như thế nào cho xứng đáng với trọng trách mà Chính phủ giao, là giúp cho nông dân trồng lúa vừa trúng mùa trúng giá, có làm được như vậy mới không phụ lòng mong đợi của bà con chịu cực, chịu khổ làm ra hạt lúa.
Cơ chế điều hành xuất khẩu gạo theo Nghị định 12 là cho xuất khẩu gạo tự do, tôi thấy còn nhiều việc phải bàn. Tôi cho rằng, cần sửa Nghị định 12, theo hướng nên giao chỉ tiêu định hướng cho các tỉnh có sản lượng lương thực lớn.
Hàng năm sản lượng lương thực của An Giang khoảng 3,1 triệu tấn, tương đương với 1,55 triệu tấn gạo, năng lực đăng ký xuất khẩu gạo của An Giang từ 500 -700 nghìn tấn gạo. Tôi nghĩ chủ trương xuất khẩu gạo Chính phủ nên giao cho Bộ Công thương và chỉ tiêu định hướng cho các tỉnh, An Giang xuất khẩu 700 ngàn tấn gạo/năm, thì phải cho cơ chế tham gia, Kiên Giang cũng thế.
Vừa qua công tác điều hành của VFA là không hợp lý, có những doanh nghiệp không có vùng nguyên liệu, điều kiện kho tàng không đảm bảo mà vẫn được tham gia xuất khẩu, việc giao chỉ tiêu cấp quota lại càng không ổn. Do đó, nên giao chỉ tiêu cho các tỉnh, để các tỉnh chủ động lượng gạo xuất khẩu hàng năm và đồng thời gắn với an ninh lương thực quốc gia.
Có ý kiến cho rằng, an ninh lương thực của mỗi tỉnh nên để cho mỗi tỉnh lo, sau đó mới tính tới an ninh lương thực chung. Ông thấy ý kiến này thế nào?
Tôi nghĩ vấn đề an ninh lương thực quốc gia thì nên do Chính phủ tính toán và quyết định, không nên giao dự trữ an ninh lương thực cho từng tỉnh, quyền chủ động là của Thủ tướng.
An ninh lương thực quốc gia, dự trữ mỗi năm của chúng ta vài trăm ngàn tấn đã khá ổn, thời vụ ở đồng bằng sông Cửu Long từ trước đến nay chưa hề xảy ra thiệt hại gì lớn lắm, nông dân vừa thu hoạch xong vụ lúa này vài tháng sau lại có vụ lúa mới.
Về chỉ tiêu xuất khẩu gạo hàng năm, nếu thấy thị trường tốt VFA cứ mạnh dạn ký xuất, tránh tình trạng, vào thời điểm xuất khẩu gạo có giá tốt không cho ký, cứ khống chế hoài để gạo xuống giá mới cho ký xuất lại, với cách điều hành “không nghệ thuật” này thì chỉ có làm nghèo nông dân, mà như vậy là VFA đang điều hành xuất khẩu gạo theo quy trình ngược.
Mỗi khi có hợp đồng tập trung của Chính phủ, VFA sẽ phân phối số lượng gạo xuất khẩu cho các doanh nghiệp thành viên và địa phương, vậy sự phân chia này có thoả đáng và phù hợp không? Có người nói: “công tác điều hành xuất khẩu gạo đang quay về cơ chế xin cho”?
Vừa qua trong điều hành xuất khẩu gạo, chúng ta đã có tiếng nói chung và có giá sàn cho gạo xuất khẩu Việt Nam khi tham gia thị trường thế giới, nếu không có giá sàn thì mạnh ai nấy chào hàng, rồi bán phá giá nhau cuối cùng nông dân là người chịu thiệt. Quan trọng là giao cho VFA tập trung đầu mối, khi có thị trường thì phải phân chia như thế nào đảm bảo hài hoà lợi ích của từng tỉnh, từng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, việc phân phối số lượng gạo xuất khẩu theo hợp đồng tập trung vừa qua là chưa hợp lý. Có những doanh nghiệp không có điều kiện vẫn có quota xuất. Doanh nghiệp nào thành viên của VFA, doanh nghiệp nào có khả năng và những tỉnh có sản lượng lúa lớn thì nên có sự ưu tiên.
Vì VFA chưa công khai minh bạch và dân chủ về vấn đề này, nên có nhiều ý kiến cho là chúng ta đang quay về cơ chế “xin - cho” trong điều hành xuất khẩu gạo. Nhưng cũng cần nói lại là cũng không nên hoàn toàn đổ lỗi cho VFA, vì vừa qua có những doanh nghiệp cố tình xin cho được quota rồi bán lại dưới giá sàn, những trường hợp này cần phải xử lý. Còn những hợp đồng mà VFA phân chia không công bằng, không công khai, thì đó là trách nhiệm của VFA.
Sau 10 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Hà Tĩnh đạt hơn 1,59 tỷ USD, giảm 1,58% so với cùng kỳ và mới đạt 72,3% kế hoạch cả năm. Khi thời gian của năm không còn nhiều, việc phụ thuộc lớn vào mặt hàng thép cùng những biến động bất lợi từ thương mại toàn cầu đang tạo sức ép mục tiêu xuất khẩu 2,2 tỷ USD...
10 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam chính thức cán mốc kỷ lục 1.010,6 tỷ USD. Đây là cơ sở quan trọng để Bộ Công Thương hoàn thiện Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu giai đoạn mới, hướng tới đưa Việt Nam vào tốp 10 quốc gia thương mại hàng đầu thế giới...
Giá trị lớn nhất của VIFTA không dừng lại ở việc mở rộng thị trường hay ưu đãi thuế quan, mà là cơ hội hình thành cầu nối chiến lược về công nghệ, đầu tư và đổi mới sáng tạo, từ đó tạo nền tảng nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu...
Doanh nghiệp Malaysia đang tìm kiếm đối tác Việt Nam trong nhiều lĩnh vực dược phẩm và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe; sản phẩm tiêu dùng, chăm sóc cá nhân, hàng tiện lợi, gia dụng, thực phẩm và hàng hóa công nghiệp…
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), cho rằng rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là đáp ứng tiêu chuẩn của khối FDI, mà còn nằm ở mạng lưới cung ứng sẵn có của các tập đoàn này. Do đó cần có sự cởi mở hơn từ doanh nghiệp FDI và thay đổi cách tiếp cận trong hỗ trợ nhà cung ứng trong nước, qua đó thúc đẩy kết nối và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Năm 2027, tổng nguồn cung đất san lấp, đá và cát xây dựng tại Thanh Hóa dự kiến đạt hơn 42 triệu m3. Việc đưa thêm các mỏ vào khai thác, kết hợp nguồn vật liệu từ các dự án thu hồi khoáng sản và sản xuất cát nhân tạo được kỳ vọng góp phần giảm áp lực thiếu hụt vật liệu phục vụ các công trình, dự án trên địa bàn.