
Đại diện Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Chính phủ Việt Nam vừa ký kết 3 hiệp định vay vốn với tổng trị giá 251 triệu USD nhằm giúp Việt Nam tăng cường năng lực của hệ thống truyền tải điện, cải thiện hệ thống giáo dục và cải thiện công tác quản lý rủi ro và giảm nhẹ tác động của thiên tai.
Dự án truyền tải điện 2 trị giá 110,19 triệu USD thuộc đợt giải ngân thứ hai trong chương trình đầu tư truyền tải điện trị giá 730 triệu USD dành cho Việt Nam đã được ADB phê duyệt vào tháng 12/2011.
Chương trình này sẽ hỗ trợ một phần cho việc thực hiện tổng sơ đồ điện 7 để đáp ứng nhu cầu điện năng ngày càng tăng của các hộ tiêu thụ điện công nghiệp, thương mại và dân dụng tại Việt Nam, đồng thời cũng sẽ hỗ trợ cải thiện hiệu quả và hiệu suất hoạt động của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia.
Ngoài khoản vay từ ADB, Cơ quan Phát triển Pháp (Agence Francaise de Developpment - AFD) cũng đồng tài trợ 75 triệu Euro dự án này.
Trong khi đó, khoản vay ưu đãi trị giá 90 triệu USD từ Quỹ Phát triển Châu Á (ADF) của ADB cho dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông giai đoạn 2 sẽ tập trung cải thiện mức độ sẵn sàng của các học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông để các em tiếp tục theo học đại học và đào tạo nghề.
Ngoài ra, ADB cũng quyết định hỗ trợ Việt Nam cải thiện công tác quản lý rủi ro và giảm nhẹ tác động của lũ lụt và hạn hán với một khoản vay trị giá 45 triệu USD và Tổ chức phát triển quốc tế Úc (AusAID) cũng cung cấp một khoản viện trợ không hoàn lại trị giá 5,9 triệu USD.
Trong xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu, điện gió ngoài khơi đang vượt khỏi phạm vi của một nguồn điện tái tạo để trở thành một ngành công nghiệp mới, kéo theo cả hệ sinh thái từ khảo sát biển, chế tạo kết cấu, cáp và thiết bị điện, cảng biển, tàu dịch vụ, logistics, tài chính, bảo hiểm, đến vận hành, bảo dưỡng và công nghệ số. Để biến những cánh đồng gió ngoài khơi thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đồng thời giải quyết bài toán quy hoạch không gian và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lực công nghiệp ngoài khơi.
Muốn trở thành một quốc gia biển mạnh, Việt Nam không chỉ cần khai thác tốt hơn các nguồn lực từ biển mà còn phải từng bước làm chủ năng lực thiết kế, chế tạo, vận hành và cung cấp công nghệ cho các hoạt động trên biển.
Trong nhiều thập niên đã qua, lợi thế của du lịch biển thường được đo bằng số lượng bãi tắm đẹp hay lượng khách đến mỗi năm. Trong xu thế du lịch ngày càng cạnh tranh, những lợi thế ấy chỉ là điều kiện ban đầu.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.