
Không giống nhiều năm gần đây, lĩnh vực xuất khẩu thủy sản đã có đà tăng trưởng mạnh ngay từ các tháng đầu năm và đều vượt "ngưỡng" 200 triệu USD/tháng về giá trị kim ngạch.
Nhìn vào những con số thống kê này, tưởng như chỉ tiêu giao cho ngành thủy sản trong cả năm (3,6 tỷ USD) là tương đối dễ dàng...
Đến cuối tháng 2, với 450 triệu USD (tháng 1: 230 triệu USD, tháng 2: 220 triệu USD), xuất khẩu thủy sản trở thành một trong những lĩnh vực kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất: 41,94% so với cùng kỳ năm 2006. Trong tháng 3, tổng số này lại được cộng thêm vào 250 triệu USD nữa, tức là gần bằng 19,5% kế hoạch của cả năm.
"Tỷ trọng giá trị xuất khẩu của quý I thường thấp hơn nhiều so với các quý còn lại, đặc biệt là những tháng cuối năm. Tuy nhiên, đầu năm 2007 đã cho thấy có những tín hiệu đáng mừng về tăng trưởng cả về giá trị xuất khẩu và năng lực sản xuất chế biến", ông Tạ Quang Ngọc, Bộ trưởng Bộ Thủy sản cho biết.
Thế nhưng, "nhanh thì không chắc" - đà tăng trưởng ấn tượng nói trên bị không ít chuyên gia trong ngành bày tỏ ý kiến nghi ngờ về sự bền vững. Ngay từ tháng 2, hậu quả từ "tăng trưởng nóng" đã xuất hiện khi nhiều doanh nghiệp chế biến xuất khẩu đồng loạt tăng công suất hoạt động (để sản xuất và giao hàng theo hợp đồng đã ký với các nhà nhập khẩu), nên tình trạng thiếu nguyên liệu, đặc biệt là cá da trơn đã trở nên trầm trọng: giá cá tra, ba sa thu mua lên mức kỷ lục là 16.800 đồng/kg; nhiều hộ nuôi cá đã thu hoạch sớm, hạ mức cỡ cá chỉ còn 0,8 - 0,9 kg/con nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu thu mua của các doanh nghiệp chế biến.
Đến tháng 3, lượng nguyên liệu cho chế biến còn ít hơn do vào cuối và hết vụ thu hoạch, dẫn tới hiện tượng một số doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên liệu để đảm bảo sản xuất.
Theo ông Ngọc, việc thiếu hụt nguyên liệu, nhất là trong những tháng đầu năm là một cản trở về sau cho sự tăng trưởng liên tục giá trị xuất khẩu, năng lực sản xuất (năm 2006, nhiều nhà máy chế biến ở ĐBSCL phải hoạt động cầm chừng, một số cơ sở chỉ hoạt động với khoảng 50% công suất).
Đồng thời, đây cũng là một tiền đề cho hoạt động thu mua, nhập lậu nguyên liệu thiếu đảm bảo về chất lượng, an toàn vệ sinh - hậu quả dẫn tới nhiều lô hàng xuất khẩu bị cảnh báo, bị hủy hoặc bị trả lại do nhiễm dư lượng hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng.
"Những vấn đề về an toàn vệ sinh sản phẩm xuất khẩu xuất hiện từ nửa cuối năm 2006 trên một số thị trường vẫn chưa được giải quyết triệt để, số lô hàng vào Nhật Bản bị cảnh báo theo thống kê từng tháng chưa giảm đi một cách rõ rệt", ông Ngọc cho biết.
Hậu quả của việc Nhật Bản quyết định áp dụng kiểm tra 100% đối với các lô hàng tôm và cá mực đông lạnh của Việt Nam đã làm kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường này bị suy giảm, trong đó nặng nề nhất là tôm đông lạnh (sản phẩm chiếm gần 50% giá trị xuất khẩu các mặt hàng thủy sản của Việt Nam).
Mặc dù các cơ quan chức năng về quản lý, kiểm tra, kiểm soát đã tăng cường hoạt động, nhưng nhiều doanh nghiệp chế biến, nhất là các đơn vị thu gom xuất khẩu vẫn chưa tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm; một số doanh nghiệp vẫn lạm dụng hóa chất bảo quản, giữ nước trong nguyên liệu, chưa tuân thủ việc sử dụng mã số doanh nghiệp xuất khẩu...
Trước tình hình này, Bộ Thủy sản đã tổ chức gấp cuộc họp bàn tìm biện pháp giải quyết khó khăn, đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản năm 2007, đặc biệt với sự tham dự của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep), Cục Quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thủy sản (Nafiqaved) - 2 đơn vị liên quan mật thiết với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.
Theo Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc, mục tiêu 3,6 tỷ USD là hoàn toàn có thể đạt hoặc vượt nếu có sự chỉ đạo điều hành đúng và kịp thời, có biện pháp sớm tháo gỡ những tồn tại, vướng mắc từ khâu sản xuất nguyên liệu - chế biến sản phẩm - thị trường xuất khẩu.
Liên quan đến vấn đề nguyên liệu, Bộ Thủy sản cho biết sẽ có chỉ đạo cụ thể về sản xuất, kinh doanh cá da trơn (sản phẩm đang có mức tăng trưởng mạnh xuất khẩu vào thị trường Nga và EU) trong cuộc họp sắp tới của Ban Điều hành sản xuất cá tra, basa nhằm đảm bảo ổn định về nguyên liệu cho chế biến, tránh tình trạng lúc thiếu, lúc thừa; đồng thời cho rằng phải tính tới vấn đề nhập nguyên liệu để tái chế xuất khẩu, tìm biện pháp giúp doanh nghiệp nhập khẩu có được thủ tục giản tiện hơn.
Liên quan đến thị trường, Nafiqaved được giao nhiệm vụ cập nhật đầy đủ các yêu cầu mới về an toàn vệ sinh thực phẩm của thị trường để báo cáo Bộ Thủy sản có các quy định phù hợp, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện; Vụ Pháp chế sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến thủ tục hành chính trong sản xuất kinh doanh thủy sản xuất khẩu, trước mắt là hướng dẫn thực hiện các quy định liên quan đến chế biến thủy sản và nguyên liệu thủy sản dùng cho chế biến xuất khẩu để giải quyết các bức xúc về an toàn vệ sinh trong sản xuất kinh doanh thủy sản hiện nay; Vụ Khoa h
ọc v
à C
ông ngh
ệ
sớm hoàn chỉnh hệ thống quy chuẩn định mức cho vùng nuôi, ao nuôi, phương tiện nuôi trồng thủy sản, đảm bảo được an toàn vệ sinh và không gây hại đến môi trường.
Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ Thủy sản sẽ sớm có chỉ thị về việc chấn chỉnh những hoạt động, hành vi ảnh hưởng đến uy tín của xuất khẩu thủy sản Việt Nam: bơm chích tạp chất, các thủ thuật nhằm tăng khối lượng và kích cỡ nguyên liệu, nhập khẩu nguyên liệu không rõ nguồn gốc xuất xứ, sử dụng lẫn mã số doanh nghiệp của cơ sở đủ điều kiện sản xuất chế biến xuất khẩu thủy sản...
Sau 10 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Hà Tĩnh đạt hơn 1,59 tỷ USD, giảm 1,58% so với cùng kỳ và mới đạt 72,3% kế hoạch cả năm. Khi thời gian của năm không còn nhiều, việc phụ thuộc lớn vào mặt hàng thép cùng những biến động bất lợi từ thương mại toàn cầu đang tạo sức ép mục tiêu xuất khẩu 2,2 tỷ USD...
10 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam chính thức cán mốc kỷ lục 1.010,6 tỷ USD. Đây là cơ sở quan trọng để Bộ Công Thương hoàn thiện Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu giai đoạn mới, hướng tới đưa Việt Nam vào tốp 10 quốc gia thương mại hàng đầu thế giới...
Giá trị lớn nhất của VIFTA không dừng lại ở việc mở rộng thị trường hay ưu đãi thuế quan, mà là cơ hội hình thành cầu nối chiến lược về công nghệ, đầu tư và đổi mới sáng tạo, từ đó tạo nền tảng nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu...
Doanh nghiệp Malaysia đang tìm kiếm đối tác Việt Nam trong nhiều lĩnh vực dược phẩm và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe; sản phẩm tiêu dùng, chăm sóc cá nhân, hàng tiện lợi, gia dụng, thực phẩm và hàng hóa công nghiệp…
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), cho rằng rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là đáp ứng tiêu chuẩn của khối FDI, mà còn nằm ở mạng lưới cung ứng sẵn có của các tập đoàn này. Do đó cần có sự cởi mở hơn từ doanh nghiệp FDI và thay đổi cách tiếp cận trong hỗ trợ nhà cung ứng trong nước, qua đó thúc đẩy kết nối và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Máy bay không người lái (drone) được mở rộng ứng dụng trong phun thuốc bảo vệ thực vật, gieo sạ và bón phân, góp phần cơ giới hóa sản xuất, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả canh tác, hướng tới phát triển nông nghiệp hiện đại.