Tại Diễn đàn “Mua bán điện trực tiếp và lưu trữ năng lượng tái tạo: Đòn bẩy cho chuyển dịch xanh và phát triển bền vững” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Tổng công ty Điện lực TP. Hồ Chí Minh (EVNHCMC) tổ chức mới đây tại TP. Hồ Chí Minh, nhiều chuyên gia cho rằng thước đo thành công của DPPA không phải số hợp đồng ký, mà là số giao dịch vận hành ổn định và có thể tái đầu tư. Tuy nhiên, đây là tiêu chí mà thị trường chưa đạt được.
Nghị định 243/2026/NĐ-CP đã bổ sung đáng kể không gian phát triển cho cơ chế DPPA so với Nghị định 80/2024/NĐ-CP trước đó, gồm: bổ sung đơn vị phát điện trong khu công nghiệp vào cả vai bán lẫn vai mua; mở rộng đối tượng khách hàng lớn; gỡ giá trần đàm phán DPPA qua mô hình đường dây riêng.
Trên thực địa, cơ chế thương mại cho mua bán điện DPPA từ nhà máy điện đã có được bằng chứng đầu tiên về khả năng nhân rộng. Tuy nhiên, TS Trần Huỳnh Ngọc, Chuyên gia cao cấp về thị trường và hệ thống điện tại AMPERES thuộc Alluvium Group, cho biết bằng chứng này vẫn đang là dự án nằm trên giấy tờ, chưa thực sự vận hành. Thước đo thành công của mô hình DPPA không chỉ dừng ở số lượng hợp đồng được ký mà phải được thể hiện ở số giao dịch vận hành ổn định và có thể tái đầu tư.
Thông tin về thực trạng triển khai DPPA, ông Bùi Trung Kiên, Phó Tổng Giám đốc EVNHCMC xác nhận, trên toàn quốc hiện mới chỉ có một khách hàng tham gia DPPA qua lưới điện quốc gia. Trong khi đó, qua đường dây kết nối riêng, đến nay đã có 14 hệ thống kết nối với tổng công suất khoảng 600 MW và không gặp cản trở.
Song song với DPPA, nhóm khách hàng phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu có tín hiệu tích cực hơn. Cụ thể, EVNHCMC đã tiếp nhận đăng ký và thông báo từ hơn 5.000 khách hàng với tổng công suất đạt khoảng 500 MW.
Nhận định một trong những điểm nghẽn kỹ thuật tài chính quan trọng nhất của mô hình DPPA qua lưới điện quốc gia là cấu trúc dòng tiền phức tạp hơn nhiều so với hợp đồng bán điện trực tiếp cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), TS Trần Huỳnh Ngọc cho biết hiện có ba dòng tiền đồng thời vận hành trong mô hình này. Đó là dòng tiền từ nhà máy năng lượng tái tạo bán lên thị trường giao ngay; dòng tiền của hợp đồng CFD (Hợp đồng chênh lệch) và dòng tiền mà khách hàng tiêu thụ điện lớn mua điện từ EVN.
"Trong mô hình DPPA, việc tính toán doanh thu và chi phí phức tạp hơn, có nhiều yếu tố biến động khó kiểm soát hơn so với các hợp đồng bán điện trực tiếp cho EVN", TS Ngọc nhấn mạnh; đồng thời đề xuất cả phía khách hàng lẫn phía chủ đầu tư dự án nên xem xét các mô hình dự án chi tiết đến từng giờ trong năm để có thể có đánh giá chính xác hơn đối với cả phía tài trợ vốn của dự án.
Các rủi ro cụ thể trong phát triển dự án DPPA được TS Ngọc phân loại thành ba nhóm.
Về giá và phí: Giá thị trường giao ngay thay đổi theo từng nửa giờ; giá bán lẻ thay đổi theo từng năm hoặc từng quý; phí dịch vụ hệ thống điện và phí bù giao dịch thay đổi theo từng năm.
Về sản lượng: Phụ thuộc vào thời tiết, sai lệch đo đếm và cắt giảm công suất.
Về hợp đồng: Rủi ro thay đổi pháp lý, đàm phán trên thị trường, khả năng chi trả và khả năng chấm dứt hợp đồng.
Thay vì chỉ có một giá PPA (Hợp đồng mua bán điện) duy nhất, chúng tôi đề xuất xem xét cơ chế dải giá với khung sàn - trần giữa bên bán và bên mua. Như vậy có thể sẽ thỏa mãn được kỳ vọng của hai bên.
Về cơ chế hợp đồng, TS Ngọc đề xuất xem xét cơ chế dải giá thay vì một giá CFD duy nhất cho từng nửa giờ, do một mức giá duy nhất trong nhiều trường hợp không thỏa mãn cả hai bên. Bên cạnh đó, các điều khoản về tái đàm phán hoặc cơ chế bảo lãnh cũng được đề xuất như các công cụ bổ sung để giảm thiểu rủi ro hợp đồng DPPA.
Theo lộ trình dự kiến, thời gian tới giá điện bán lẻ cho khách hàng công nghiệp, thương mại có thể được áp dụng theo Quyết định số 963/QĐ-BCT của Bộ Công Thương theo khung giờ mới. Trong tương lai xa hơn, giá điện hai thành phần có thể được áp dụng.
TS Ngọc nhận định trong tương lai, nếu 2 chính sách này được đưa vào quy định, sẽ xảy ra 2 tình huống:
Thứ nhất, trong kịch bản áp dụng Quyết định 963 với giả định giá điện không đổi theo mức hiện tại, biên độ thương lượng cho hợp đồng CFD giảm từ 1.600 đồng/kWh xuống còn 1.200 đồng/kWh. Lý do của đề xuất này là giờ cao điểm không còn trùng với giờ có điện mặt trời, khiến giá điện bán lẻ trung bình trong ngày ứng với thời gian có điện mặt trời giảm đi, tức là lợi thế cạnh tranh của điện mặt trời bị giảm đi. Dẫn đến biên độ thương lượng giữa nhà phát triển và khách hàng lớn giảm khoảng 25%.
Thứ hain trong kịch bản áp dụng giá hai thành phần, biên độ thương lượng có thể giảm sâu đến 860 đồng/kWh nếu chi phí dịch vụ hệ thống điện giữ như hiện nay; hoặc giảm về khoảng 1.200 nếu chi phí dịch vụ hệ thống điện giảm khoảng 10% so với hiện nay.
“Khi biên độ thương lượng CFD giảm, dòng tiền DPPA của nhà phát triển dự án sẽ bị giảm và không còn tính cạnh tranh cao so với các dự án bán điện thẳng cho EVN”., TS Ngọc phân tích.
Mặc dù đây là hai kịch bản chưa hiện thực về mặt pháp lý, nhưng đặt ra câu hỏi quan trọng về biên độ lợi nhuận và khả năng tài trợ vốn của dự án trong giai đoạn hiện tại, đặc biệt khi các hợp đồng DPPA thường kéo dài 20 năm.
Từ phân tích trên, TS Ngọc đưa ra 2 đề xuất từ góc độ thị trường và chính sách.
Về phía chính sách, có ba vấn đề cần ưu tiên.
Một là, tăng khả năng dự báo cho chủ đầu tư và khách hàng lớn, đặc biệt là khu công nghiệp, thông qua việc công bố rõ hơn lộ trình giá điện và dữ liệu lịch sử.
Hai là, hoàn thiện cơ chế kinh tế cho các dự án điện tái tạo kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) và khu công nghiệp, trong đó cần làm rõ cách tính công suất cực đại (Pmax) khi áp dụng giá điện hai thành phần. Đây là yếu tố quan trọng đối với mô hình tài chính của các dự án có thời hạn hợp đồng 20 năm.
Ba là, cần bảo đảm phát triển đồng bộ nguồn và lưới điện, để hạ tầng lưới theo kịp tốc độ phát triển nguồn.
Về phía thị trường, các chủ đầu tư và khách hàng tiêu thụ điện lớn cần nâng cao năng lực mô hình hóa tài chính dự án theo từng giờ, phản ánh được biến động của thị trường giao ngay và các yếu tố rủi ro. Đồng thời, cần xây dựng cấu trúc hợp đồng có cơ chế phân bổ rủi ro hợp lý và biên độ lợi nhuận phù hợp.
Bên cạnh DPPA, doanh nghiệp cũng nên kết hợp các giải pháp như sử dụng năng lượng hiệu quả, lắp đặt BESS để giảm Pmax tại chỗ, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn khi tham gia DPPA.
Nhìn tổng thể, khung pháp lý cho DPPA đã được mở rộng, tính minh bạch được cải thiện và vai trò của các bên được làm rõ hơn. Tuy nhiên, bài toán quan trọng tiếp theo là làm thế nào để DPPA thực sự có tính kinh tế và các dự án có khả năng huy động vốn hợp lý. Đây là vấn đề cơ quan quản lý sẽ cần tiếp tục theo dõi và hoàn thiện trong thời gian tới.
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Với khoảng 44.000 ha cà phê Arabica, Sơn La đang hướng tới phát triển ngành hàng theo hướng sinh thái, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị xuất khẩu. Trước thách thức của biến đổi khí hậu và các yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, tỉnh xác định đẩy mạnh canh tác bền vững, chuyển đổi số, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị, hướng tới mục tiêu đạt 100.000 tấn cà phê nhân vào năm 2030...
Vòng bán kết Cuộc thi Tài năng trẻ Logistics Việt Nam 2026 với sự góp mặt của 54 đội từ các trường đại học, cao đẳng trên cả nước, hứa hẹn sẽ mang đến những màn tranh tài hấp dẫn, khẳng định sức lan tỏa của sân chơi học thuật hàng đầu ngành logistics...
Doanh nghiệp không chỉ cần thêm chính sách, mà còn cần chính sách ổn định, quy định thông suốt, thời hạn giải quyết thủ tục minh bạch và cơ quan chịu trách nhiệm rõ ràng. Quan trọng nhất là một môi trường kinh doanh có thể dự báo được, giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư, phát triển dài hạn...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.