Việt Nam không thiếu dữ liệu, vì sao vẫn chưa có kinh tế dữ liệu?
Bảo Bình
05/06/2026
Dù nguồn tài nguyên dữ liệu của Việt Nam ngày càng phong phú, nền kinh tế dữ liệu vẫn chưa thực sự hình thành...
Dữ liệu được ví như "tài nguyên mới" của nền kinh tế số. Việt Nam sở hữu khối lượng dữ liệu khổng lồ từ các cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống dữ liệu của các địa phương, doanh nghiệp, ngân hàng và tổ chức tài chính.
Chia sẻ tại Hội thảo ECOTECH 2026 chủ đề: “Dữ liệu & AI – Từ hạ tầng đến giá trị thực tiễn” do Đại học Bách khoa Hà Nội phối hợp cùng Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán tổ chức, bà Nguyễn Thị Ngọc Dung, Chánh Văn phòng Hiệp hội Dữ liệu Quốc gia, cho rằng câu hỏi quan trọng nhất hiện nay không phải là Việt Nam có dữ liệu hay không, mà là làm thế nào để biến dữ liệu thành hàng hóa, thành giá trị kinh tế và hình thành một thị trường dữ liệu vận hành hiệu quả.
DỮ LIỆU KHÔNG THIẾU, NHƯNG VẪN ĐANG "NẰM IM"
Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã đầu tư mạnh vào xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia. Hiện cả nước có nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia quy mô lớn do Nhà nước quản lý, bao gồm các lĩnh vực then chốt như dân cư, xuất nhập cảnh, doanh nghiệp, tài chính, y tế, giáo dục, đất đai và an sinh xã hội, tạo nền tảng quan trọng cho chuyển đổi số quốc gia. Bên cạnh đó là lượng dữ liệu rất lớn được tích lũy trong các tập đoàn, ngân hàng và doanh nghiệp.
Việt Nam không hề thiếu dữ liệu, nhưng các hệ thống dữ liệu vẫn đang “nằm im, chưa được khai thác". Trong khi nguồn dữ liệu ngày càng đồ sộ thì khả năng khai thác để tạo ra giá trị kinh tế vẫn còn rất hạn chế.
Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Dung, nhìn từ góc độ nguồn lực, Việt Nam không hề thiếu dữ liệu, nhưng các hệ thống dữ liệu vẫn đang “nằm im, chưa được khai thác". Nghịch lý nằm ở chỗ, trong khi nguồn dữ liệu ngày càng đồ sộ thì khả năng khai thác để tạo ra giá trị kinh tế vẫn còn rất hạn chế. Nhiều cơ sở dữ liệu được xây dựng với chi phí lớn nhưng chưa hình thành được cơ chế chia sẻ, kết nối và thương mại hóa phù hợp.
Theo bà Dung, Việt Nam thực tế đã tồn tại thị trường dữ liệu từ nhiều năm nay, nhưng chủ yếu dưới dạng không chính thức. Điều còn thiếu là một thị trường dữ liệu hợp pháp, minh bạch, nơi dữ liệu có thể được giao dịch như một loại tài sản.
Bà Dung cho rằng để có kinh tế dữ liệu, trước hết phải hình thành được ngành công nghiệp dữ liệu. Tương tự như muốn phát triển kinh tế lúa gạo thì buộc phải có ngành công nghiệp lúa gạo, kinh tế dữ liệu cũng cần một hệ sinh thái doanh nghiệp chuyên xử lý, khai thác và thương mại hóa dữ liệu.
DOANH NGHIỆP KHÁT DỮ LIỆU, NHƯNG KHÓ TIẾP CẬN
Khảo sát của Hiệp hội Dữ liệu Quốc gia và Trung tâm Sáng tạo, Khai thác dữ liệu, thuộc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Bộ Công an, đối với hơn 1.000 tổ chức, doanh nghiệp thành viên cho thấy nhu cầu khai thác dữ liệu trên thị trường là rất lớn.
Theo bà Dung, kết quả khảo sát phản ánh một thực tế đáng chú ý: doanh nghiệp hiện không còn băn khoăn về việc có nên ứng dụng AI hay không, mà đang tìm cách tiếp cận nguồn dữ liệu để phát triển các ứng dụng AI và giải quyết các bài toán kinh doanh.
Tất cả các hội viên và doanh nghiệp được hỏi đều có chung câu trả lời là làm sao để tiếp cận được dữ liệu
"Tất cả các hội viên và doanh nghiệp được hỏi đều có chung câu trả lời là làm sao để tiếp cận được dữ liệu", bà Dung cho biết.
Trong số các loại dữ liệu được doanh nghiệp quan tâm nhất, dữ liệu giao thông đứng đầu danh sách, tiếp theo là dữ liệu tài chính, dữ liệu doanh nghiệp vừa và nhỏ, dữ liệu y tế, giáo dục, quy hoạch đất đai, môi trường và nông nghiệp.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa nhu cầu và khả năng tiếp cận vẫn rất lớn.
Khảo sát cho thấy dữ liệu hiện đang bị phân tán ở nhiều cơ quan khác nhau. Nhiều bộ, ngành đã xây dựng cơ sở dữ liệu nhưng doanh nghiệp rất khó tiếp cận. Các công cụ tìm kiếm dữ liệu chưa thân thiện, chưa đáp ứng nhu cầu khai thác của khu vực tư nhân.
Một điểm nghẽn khác là thiếu cơ chế truy cập tự động. Theo chuyên gia, tại nhiều quốc gia phát triển như Mỹ, Hàn Quốc hay Singapore, doanh nghiệp có thể đăng ký và khai thác dữ liệu công thông qua các giao diện API. Trong khi đó, mô hình này vẫn chưa phổ biến tại Việt Nam.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn đối mặt với nhiều rào cản khác như thủ tục cấp phép phức tạp, chất lượng dữ liệu chưa đồng đều, thiếu khả năng liên thông giữa các hệ thống, hạn chế về hành lang pháp lý và chi phí khai thác còn cao.
Theo bà Dung, đây chính là những nguyên nhân khiến lượng dữ liệu lớn đang tồn tại nhưng chưa thể trở thành nguồn lực phục vụ tăng trưởng kinh tế.
Đáng chú ý, hơn 50% doanh nghiệp được khảo sát bày tỏ sự quan tâm tới dữ liệu mở. Điều này cho thấy nhu cầu mua và sử dụng dữ liệu một cách hợp pháp đang hiện hữu rất rõ trên thị trường.
"Nếu coi dữ liệu là hàng hóa thì cứ hai doanh nghiệp được hỏi đã có một doanh nghiệp sẵn sàng mua dữ liệu từ Chính phủ", bà Dung cho biết.
KHOẢNG TRỐNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỮ LIỆU
Theo đánh giá của Hiệp hội Dữ liệu Quốc gia, Việt Nam hiện đã từng bước hình thành những nền tảng quan trọng cho kinh tế dữ liệu.
Tôi đánh giá rằng chúng ta mới đang bắt đầu đặt móng để xây dựng ngành công nghiệp dữ liệu, chứ nó chưa thực sự tồn tại. Và khi chưa có ngành công nghiệp dữ liệu thì nền kinh tế dữ liệu vẫn chưa thể hình thành
Về thể chế, nhiều khung pháp lý quan trọng đã được ban hành như Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật An ninh mạng. Về hạ tầng, Trung tâm Dữ liệu Quốc gia đang được xây dựng, cùng với sự phát triển của các trung tâm dữ liệu tư nhân, nền tảng điện toán đám mây và các hệ thống bảo mật.
Tuy nhiên, mắt xích còn thiếu lại chính là ngành công nghiệp dữ liệu.
"Tôi đánh giá rằng chúng ta mới đang bắt đầu đặt móng để xây dựng ngành công nghiệp dữ liệu, chứ nó chưa thực sự tồn tại. Và khi chưa có ngành công nghiệp dữ liệu thì nền kinh tế dữ liệu vẫn chưa thể hình thành", bà Dung nhận định.
Theo bà, ngành công nghiệp dữ liệu phải bao gồm đầy đủ các năng lực từ thu thập, làm sạch, chuẩn hóa, gán nhãn, liên thông dữ liệu, xây dựng metadata, phân tích dữ liệu cho tới phát triển sản phẩm và thương mại hóa.
Đây là những công đoạn cốt lõi giúp biến dữ liệu thô thành hàng hóa có giá trị trên thị trường. Các quốc gia có nền công nghiệp dữ liệu phát triển như Mỹ, Hàn Quốc hay nhiều nước châu Âu, đã hình thành hàng nghìn doanh nghiệp chuyên cung cấp các dịch vụ này.
Trong khi đó, tại Việt Nam, số lượng doanh nghiệp tham gia các công đoạn của chuỗi giá trị dữ liệu vẫn còn rất ít.
Theo bà Dung, đây vừa là khoảng trống lớn của nền kinh tế số, vừa là cơ hội cho các doanh nghiệp công nghệ và startup trong giai đoạn tới. Bởi khi dữ liệu trở thành yếu tố đầu vào của AI, chuyển đổi số và các mô hình kinh doanh mới, nhu cầu về các dịch vụ xử lý và khai thác dữ liệu sẽ ngày càng tăng mạnh.
Số hóa, khai thác kho tư liệu bằng AI, bảo đảm an ninh mạng và xác thực thông tin là những yêu cầu đặt ra đối với báo chí trong quá trình chuyển đổi số, đặc biệt với nguồn tư liệu nghiệp vụ được tích lũy qua nhiều năm của báo chí công an nhân dân…
Khi hạ tầng năng lượng ngày càng phụ thuộc vào dữ liệu và công nghệ điều khiển, bảo vệ hệ thống công nghệ thông tin, công nghệ vận hành công nghiệp và nâng cao năng lực ứng phó sự cố trở thành yêu cầu quan trọng đối với an ninh năng lượng quốc gia…
Với AI, doanh nghiệp có thể cải thiện năng suất, tối ưu hóa quy trình, gia tăng lợi nhuận và duy trì khả năng cạnh tranh. Tác động này diễn ra ở mọi quy mô, từ các tập đoàn lớn đến doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Ngược lại, những doanh nghiệp chậm thích ứng với công nghệ có nguy cơ đánh mất lợi thế và tụt lại phía sau thị trường…
Cloud và AI đang thay đổi nhanh cách ngân hàng xây dựng sản phẩm, vận hành hệ thống và khai thác dữ liệu. Nhưng khi hạ tầng trở nên phân tán hơn, kết nối nhiều hơn và phụ thuộc vào nhiều bên hơn, bài toán bảo mật cũng thay đổi…
Để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hiệu quả cần có sự phối hợp của cả một hệ sinh thái dịch vụ, từ kết nối thị trường, xây dựng thương hiệu, kể câu chuyện sản phẩm đến phát triển dữ liệu và chuyển đổi số…
Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, thị trường nhiều biến động, cần kết nối những xu hướng đang định hình kinh tế toàn cầu với các quyết định thực tế của doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách...
Từ một khóa học chuyển đổi số, Vàng Thị Mơi bắt đầu xây dựng dịch vụ thiết kế và hỗ trợ kinh doanh trực tuyến cho các hộ kinh doanh. Với Mơi, ứng dụng công nghệ số không chỉ là sử dụng AI hay mạng xã hội, mà còn giúp người dân giải quyết những nhu cầu thiết thực trong cuộc sống…
Trí tuệ nhân tạo đang tái định hình môi trường kinh doanh toàn cầu. Thách thức lớn nhất của doanh nghiệp không đơn thuần là ứng dụng AI, mà là nhận diện đúng cơ hội, tái định hình phương thức quản trị, đổi mới mô hình vận hành và chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành giá trị kinh doanh thực sự…
Ở mức cao nhất, hệ thống có thể tự động giải quyết thủ tục hành chính khi dữ liệu đủ để xác định người dân đáp ứng các điều kiện theo quy định. Khi đó, hệ thống chủ động xử lý và thông báo kết quả, người dân không phải tự khởi tạo và thực hiện từng bước thủ tục như trước…
Một trong những điểm nghẽn trong đào tạo nhân lực ngành bán dẫn là các trường đại học cùng phát triển nhiều lĩnh vực đào tạo, từ chương trình học đến hạ tầng, phòng thí nghiệm và đội ngũ giảng viên…