Trung Quốc tham vọng tự chủ ngành chip trong bối cảnh thị trường phục hồi
Nguyễn Hà
21/08/2023
Theo nghiên cứu của UBS Securities, tỷ lệ thiết bị chip nội địa của Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trong vài năm tới, đặc biệt là trong lĩnh vực thiết bị kém tiên tiến hơn…
Jimmy Yu, nhà phân tích công nghệ Trung Quốc tại UBS Securities, cho biết tỷ lệ tự cung cấp thiết bị bán dẫn dự kiến sẽ tăng trong các lĩnh vực kém tiên tiến hơn, chiếm khoảng 70% tổng thị trường, chẳng hạn như lĩnh vực máy khắc và làm sạch chất bán dẫn.
“Chúng ta không thể cho rằng các công ty nội địa sẽ chiếm 100% thị trường Trung Quốc, nhưng sẽ hợp lý khi đưa ra giả định rằng các công ty ấy chiếm thị phần khoảng 60% trong một số lĩnh vực” Yu nói.
Trong khi đó, Trung Quốc vẫn chiếm tỷ lệ tương đối thấp trong lĩnh vực thiết kế chip trên thị trường toàn cầu, Yu nói. Nhưng ông nói thêm rằng gần một nửa số người mua chip tại Trung Quốc đã báo hiệu rằng họ sẵn sàng tăng mức sử dụng chip được phát triển trong nước.
CÁC DOANH NGHIỆP TRUNG QUỐC TÍCH CỰC ỦNG HỘ VIỆC SẢN XUẤT CHIP NỘI ĐỊA
Theo khảo sát của UBS, 11% các công ty Trung Quốc có nhu cầu về sản phẩm mạch tích hợp (IC) cho biết họ đang cân nhắc sử dụng chip nội địa thay cho chip nhập khẩu, trong khi 39% cho biết họ sẵn sàng làm như vậy. Yu cho biết thêm: “Trong ba năm tới, tỷ lệ các công ty Trung Quốc sử dụng chip do nội địa sẽ tăng dần lên từ 30 đến 50% và đây là mức tăng khá cao”.
Hoạt động sản xuất chất bán dẫn trong nước của Trung Quốc đang dần tăng lên khi thị trường chip của nước này dần phục hồi, sau khi trải qua thời gian dài nhu cầu tiêu dùng trì trệ và đối mặt với nhiều khó khăn kinh tế khác nhau.
Trong tháng 7, sản lượng mạch tích hợp của Trung Quốc tăng 4,1% lên 29,2 tỷ nhân dân tệ, đánh dấu tháng tăng trưởng dương thứ tư liên tiếp. Tuy nhiên, sản lượng IC trong 7 tháng đầu năm vẫn giảm 3,9% so với cùng kỳ năm ngoái, điều này phản ánh rằng thị trường bán dẫn lớn nhất thế giới tiếp tục phải vật lộn với những khó khăn kinh tế và sự cạnh tranh công nghệ leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc.
Yu dự kiến chi tiêu vốn trong lĩnh vực bán dẫn toàn cầu sẽ giảm 15,1% vào năm 2023, trong đó Trung Quốc có mức giảm lớn hơn tỷ lệ toàn cầu trong bối cảnh rủi ro địa chính trị bao gồm các biện pháp kiểm soát xuất khẩu do Mỹ áp đặt vào tháng 10 năm ngoái.
“Nhưng nhìn vào năm tới, tôi tin rằng Trung Quốc sẽ có mức độ phục hồi cao hơn so với thị trường toàn cầu và Trung Quốc vẫn là thị trường khu vực quan trọng nhất thế giới về chi tiêu vốn” ông nói thêm.
Yu cho biết ông kỳ vọng doanh thu của các công ty bán dẫn toàn cầu sẽ tăng trưởng trở lại từ nửa cuối năm 2023 đến nửa đầu năm 2024, do nhu cầu về điện thoại thông minh, PC và máy chủ phục hồi. Ông cho biết thêm, nhu cầu về điện thoại thông minh sẽ tăng nhanh khi lĩnh vực này tăng cường loại bỏ hàng tồn kho dư thừa.
Theo ước tính của UBS, vào năm 2023, doanh thu của ngành bán dẫn toàn cầu sẽ giảm 14,3% so với cùng kỳ năm ngoái xuống còn 492 tỷ USD, trong khi quay trở lại mức tăng trưởng 22,8% vào năm 2024.
VẪN CÒN TỒN TẠI NHỮNG THÁCH THỨC LỚN
Theo các chuyên gia, Trung Quốc vẫn phụ thuộc nhiều vào các bộ phận nhập khẩu khi sản xuất thiết bị bán dẫn. Do đó, bất chấp sự ủng hộ rộng rãi đối với nỗ lực tự cung tự cấp chất bán dẫn của Trung Quốc, các doanh nghiệp Trung Quốc phải đối mặt với sự tắc nghẽn nghiêm trọng trong quá trình sản xuất.
Jacky Lin, Giám đốc điều hành của Honghu Suzhou Semiconductor Technology, nhà cung cấp thiết bị vận chuyển wafer, cho biết: “Chúng tôi có khoảng cách lớn với các công ty nước ngoài trong ngành bán dẫn và chúng tôi đang đối mặt với những thách thức to lớn về công nghệ sản xuất các bộ phận chính và nguồn nhân tài khan hiếm”.
Lin cho biết thêm hơn 80% hệ thống vận chuyển wafer được sử dụng trong các nhà máy sản xuất trong nước đã được cung cấp bởi các công ty Mỹ và Nhật Bản như Brooks Automation và Rorze Corporation.
Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu Trung Quốc có thể tạo ra đủ đột phá trong lĩnh vực thiết bị chip hay không, đặc biệt là trong các hệ thống in thạch bản, một lĩnh vực mà Trung Quốc hiện đang phụ thuộc vào xuất khẩu từ Nhật Bản và Hà Lan.
Jeff Zhao, giám đốc tiếp thị và chiến lược tại CanSemi Technology, một công ty đúc lớn có trụ sở tại Greater Bay Area, cho biết tỷ lệ nội địa hóa hiện tại của Trung Quốc trong các hệ thống in thạch bản là dưới 5%.
Khi sự tiện ích và thấu cảm của trí tuệ nhân tạo (AI) vô tình biến công nghệ này thành một "tri kỷ ảo", các doanh nghiệp Việt cũng đồng thời phải đối mặt với những góc khuất rủi ro bảo mật và những bài toán về an ninh mạng chưa có tiền lệ.
Các doanh nghiệp tạo tác động xã hội (SIB) tại Việt Nam đang cho thấy tác động tích cực về xã hội và môi trường có thể tạo ra giá trị kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở ra những cơ hội thị trường mới…
The WISE Talk số 21 với chủ đề "An ninh mạng trong kỷ nguyên AI" được phát sóng trên trang chủ và Fanpage của VnEconomy vào 14:00, ngày 20/08/2026.
Theo Báo cáo của ILO, khoảng 11,5 triệu lao động tại Việt Nam, tương đương 1/5 lực lượng lao động, đang làm những công việc có khả năng chịu tác động của AI tạo sinh…
Trong bức tranh kinh doanh hiện đại, trí tuệ nhân tạo (AI) đang được ví như một động cơ siêu tốc, thúc đẩy mọi doanh nghiệp chuyển mình. Thế nhưng, đằng sau sự hào nhoáng của những cơ hội tăng trưởng ấy lại là một thực tế đáng báo động…
Lượng tử là lĩnh vực mà Việt Nam “khó có thể đứng ngoài”. Vấn đề đặt ra là phát triển theo cách phù hợp để bắt kịp thế giới, trong đó chuẩn bị nguồn nhân lực là một trong những yêu cầu quan trọng nhất...
Dữ liệu có thể trở thành “tiêu sản” nếu quản trị không tốt, sai lệch, không được khai thác hoặc chi phí lưu trữ, quản lý lớn hơn giá trị mà dữ liệu mang lại…
Cuộc đua AI trong doanh nghiệp không nằm ở việc ai có nhiều công cụ hơn, mà ở việc ai xác định đúng bài toán hơn. Doanh nghiệp cần nhìn AI từ góc độ giá trị kinh doanh, thay vì chỉ đo số lượng người dùng, số lượng chatbot hay số quy trình được tự động hóa...
Năng lượng ổn định, chi phí hợp lý cần được xem là nền tảng chiến lược cho mục tiêu phát triển AI của Việt Nam, bên cạnh dữ liệu, chip và hạ tầng điện toán.
Việc từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học đang đặt ngành giáo dục trước yêu cầu lớn về phát triển đội ngũ giáo viên, đổi mới phương pháp giảng dạy và xây dựng môi trường sử dụng ngoại ngữ thường xuyên, hiệu quả…