Đảng ủy Bộ Dân tộc và Tôn giáo vừa ban hành Kế hoạch số 70-KH/ĐU triển khai thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Đối với lĩnh vực dân tộc, Kế hoạch yêu cầu rà soát toàn diện hệ thống chính sách đất đai hiện hành. Đánh giá thực trạng, xác định những bất cập, vướng mắc, chồng chéo, để đề xuất nội dung cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới, bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật đất đai và các cơ chế, chính sách có liên quan.
Trọng tâm rà soát gồm: Chính sách giao đất ở, đất sản xuất cho hộ dân tộc thiểu số nghèo, cận nghèo, thiếu đất; cơ chế hạn chế chuyển nhượng đất sau khi được Nhà nước hỗ trợ; đất sinh hoạt cộng đồng; cơ chế sử dụng quỹ đất thu hồi, nhất là đất từ nông, lâm trường, để giải quyết đất cho đồng bào. Ngoài ra, việc rà soát cũng tập trung vào: Cơ chế, chính sách tham vấn cộng đồng khi thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chính sách đất đai gắn với bảo tồn văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào...
Quá trình này đồng thời phải gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa chính sách đất đai và các cơ chế triển khai Chương trình. Trên cơ sở kết quả rà soát, đơn vị liên quan sẽ xây dựng báo cáo, xác định danh mục chính sách cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới; đề xuất nội dung về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số để kiến nghị đưa vào Luật Đất đai (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, Kế hoạch yêu cầu rà soát hệ thống chính sách đất đai đối với tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và đất tín ngưỡng của cộng đồng dân cư; xác định những bất cập, vướng mắc để đề xuất sửa đổi, bổ sung, bảo đảm sự đồng bộ giữa Luật Đất đai (sửa đổi) và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16, có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.
Phạm vi rà soát tập trung vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tín ngưỡng, đất tôn giáo; điều kiện, trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất; quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư, tổ chức tôn giáo; việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và xử lý đất đai khi có thay đổi về tổ chức.
Kết quả rà soát sẽ là cơ sở xác định các văn bản cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới; đồng thời đề xuất nội dung chính sách về đất tôn giáo, đất tín ngưỡng trong quá trình xây dựng Luật Đất đai (sửa đổi) và văn bản hướng dẫn thi hành.
Cùng với nhiệm vụ phục vụ sửa đổi Luật Đất đai, Bộ Dân tộc và Tôn giáo tiếp tục thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Theo đó, các đơn vị tổng hợp tình hình thiếu đất ở, đất sản xuất trên phạm vi cả nước; đánh giá kết quả thực hiện chính sách giai đoạn 2021-2025, xác định những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện tại địa phương. Dữ liệu sẽ được cập nhật, hoàn thiện, nhằm phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và nghiên cứu, đề xuất chính sách.
Thực tế, liên quan đến giải quyết đất ở, đất sản xuất, các địa phương cũng xây dựng chính sách phù hợp với điều kiện thực tế. Trong đó, tại Hà Nội, Thành phố vừa thông qua Nghị quyết quy định chính sách về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn Thành phố. Cụ thể, các khu dân cư, thôn, xóm vùng đồng bào dân tộc thiểu số được bố trí, quy hoạch quỹ đất sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào dân tộc thiểu số, phù hợp với phong tục, tập quán, tín ngưỡng, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng, với diện tích tối thiểu từ 300 m2 trở lên.
Đối với chính sách hỗ trợ về đất đai lần đầu cho cá nhân là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Hà Nội, việc giao đất ở sẽ trong hạn mức do UBND TP quy định và được miễn tiền sử dụng đất.
Ngoài ra, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất khác sang đất ở trong hạn mức giao đất ở do UBND TP quy định và được miễn tiền sử dụng đất đối với đất có nguồn gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê, công nhận hoặc thừa kế, tặng cho, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
Cho thuê đất phi nông nghiệp không phải là đất ở không thông qua đấu giá để sản xuất, kinh doanh và được giảm 50% tiền thuê đất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; diện tích thuê đất phi nông nghiệp do UBND cấp xã quyết định căn cứ vào tình hình thực tế và quỹ đất của địa phương.
Đối với chính sách hỗ trợ về đất đai để bảo đảm ổn định cuộc sống cho cá nhân là người dân tộc thiểu số, thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn TP.Hà Nội, đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhưng nay không còn đất ở, thì được giao đất ở, hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất khác sang đất ở trong hạn mức giao đất ở do UBND TP quy định và được miễn tiền sử dụng đất. Còn trường hợp diện tích đất ở đang sử dụng nhỏ hơn so với hạn mức giao đất ở của địa phương, thì cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất khác sang đất ở trong hạn mức giao đất ở do UBND TP quy định và được miễn tiền sử dụng đất.
Trường hợp không còn đất nông nghiệp, hoặc diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng không đủ 50% diện tích đất so với hạn mức giao đất nông nghiệp do UBND TP quy định, thì được giao tiếp đất nông nghiệp trong hạn mức do UBND TP quy định và không thu tiền sử dụng đất, hoặc cho thuê đất phi nông nghiệp không phải là đất ở không thông qua đấu giá để sản xuất, kinh doanh và được giảm 50% tiền thuê đất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; diện tích thuê đất phi nông nghiệp do UBND cấp xã quyết định căn cứ vào tình hình thực tế và quỹ đất của địa phương.
Ở những nấc cao hơn của chuỗi giá trị, chuẩn mực không còn đơn thuần là điều kiện để doanh nghiệp tham gia thị trường. Khi được chuyển hóa thành năng lực thực thi, duy trì xuyên suốt và đồng bộ, chuẩn mực sẽ trở thành một phần quan trọng trong sức cạnh tranh của cả nền kinh tế.
Muốn thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, không chỉ cần khu công nghiệp tốt, chính sách tốt, mà còn phải có môi trường sống đủ tốt để chuyên gia quốc tế yên tâm làm việc, gắn bó và đưa gia đình đến sinh sống…
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu phát triển nhà ở phải căn cứ nhu cầu thực tế, khả năng chi trả của người dân và điều kiện từng địa phương; khắc phục mất cân đối cung-cầu; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tăng nguồn cung nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, đồng thời hoàn thiện chính sách để hạn chế đầu cơ, tránh lãng phí nguồn lực...
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.
Pháp luật và xã hội Việt Nam luôn đề cao sự công bằng, nhân văn, bảo vệ lẽ phải và quyền lợi chính đáng của người sở hữu nhà ở, bất kể đó là người Việt Nam hay người nước ngoài. Vì vậy, người nước ngoài có thể chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ pháp lý khi cần thiết...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.