
Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa có ý kiến đối với đề nghị của Bộ Giao thông Vận tải về việc xây dựng tiêu chí đặt trạm thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ các dự án đầu tư xây dựng đường bộ để kinh doanh.
Theo đó, Phó thủ tướng yêu cầu Bộ Giao thông Vận tải thực hiện đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 120/VPCP-CN ngày 4/1/2018, lấy ý kiến các bộ, ngành và địa phương liên quan để quyết định tiêu chí đặt trạm thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ và ban hành thông tư theo thẩm quyền.
Trước đó, tại văn bản số 120/VPCP-CN, Phó thủ tướng cũng đã giao Bộ Giao thông Vận tải chủ trì phối hợp với các bộ ngành, địa phương nghiên cứu xây dựng tiêu chí đặt trạm thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ các dự án đầu tư xây dựng đường bộ để kinh doanh, bảo đảm tuân thủ đúng Nghị quyết số 437/NQ-UBTVQH14 ngày 21/10/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Sau chỉ đạo trên, hiện Bộ Giao thông Vận tải đang dự thảo sửa đổi Thông tư 49/2016, trong đó nêu rõ vị trí đặt trạm thu giá phải phải nằm trong phạm vi dự án và có ý kiến thống nhất của các cơ quan địa phương là Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hiệp hội vận tải ôtô, đồng thời lấy ý kiến tham gia của nhân dân địa phương.
Đối với đường địa phương, trạm thu giá phải phù hợp với quy hoạch đường gắn với dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định; vị trí đặt trạm thu giá phải nằm trong phạm vi dự án do Ủy ban nhân dân báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.
Bên cạnh đó, khoảng cách giữa hai trạm thu giá ở trên cùng một tuyến đường phải đảm bảo cự ly tối thiểu là 70 km trừ những trạm thu giá hoàn vốn cho các dự án cầu đường bộ, hầm đường bộ.
Dự thảo nêu rõ, trạm thu giá chỉ được tổ chức thu hoàn vốn cho dự án sau khi dự án hoàn thành, nghiệm thu đưa vào sử dụng và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, xác định đủ điều kiện được tổ chức thu. Đối với những trạm thu giá hoàn vốn cho các dự án đã đưa vào khai thác vận hành trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực tiếp tục thực hiện theo các quy định của hợp đồng dự án và các văn bản liên quan.
Trao đổi với báo chí mới đây, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Văn Thể cho biết, quan điểm của Bộ này là sẽ thực hiện nghiêm NQ 437 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Theo đó, các dự án BOT sắp tới sẽ được triển khai trên đường mới hoàn toàn, Bộ sẽ giải quyết được căn cơ, tạo điều kiện cho người dân có sự chọn lựa, được sử dụng hạ tầng do Nhà nước đầu tư. Nếu người dân chấp nhận trả phí thì đi đường mới, còn nếu không thì đi đường cũ.
Bên cạnh đó, các trạm thu giá BOT từ nay về sau sẽ phải ứng dụng thu phí không dừng, vừa tiết kiệm thời gian, vừa minh bạch tài chính. Nhà nước và nhân dân cùng quản lý được nguồn thu của nhà đầu tư. Tiến tới, các barie tại các trạm thu giá BOT sẽ được dỡ bỏ hoàn toàn, công nghệ thu phí tự động không dừng sẽ tự động quét xử lý, trừ phí vào tài khoản của lái xe;...
Ngoài ra, lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải cũng cho biết, chủ trương của Bộ là không làm đường quốc lộ song hành nữa mà chỉ làm đường cao tốc song hành với quốc lộ.
Liên quan đến sử dụng khái niệm "thu giá" hay "thu phí" BOT, hiện đang có nhiều ý kiến trái chiều, trong đó hầu hết chuyên gia và dư luận đều phản đối khái niệm "thu giá" mà Bộ Giao thông Vận tải đang áp dụng tại các trạm BOT trên cả nước.
Theo các chuyên gia, việc sử dụng khái niệm "thu giá" vừa không phù hợp về mặt ngôn ngữ, vừa không đúng về mặt kinh tế học. Quan trọng hơn, về lâu dài, việc sử dụng cụm từ "thu giá" sẽ đẩy những bất lợi về phía người sử dụng dịch vụ các dự án BOT giao thông.
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Với đường bờ biển dài, nằm gần các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng và là một trong những nền kinh tế có độ mở thương mại cao, Việt Nam đứng trước cơ hội lớn để nâng tầm vị thế trong mạng lưới hàng hải và logistics khu vực. Tuy nhiên, cạnh tranh hàng hải hiện nay đang chuyển sang cuộc đua về chất lượng dịch vụ rất mạnh mẽ. Do đó, Việt Nam cần phải hình thành một hệ sinh thái hàng hải đủ mạnh để chuyển hóa lợi thế vị trí địa lý thành năng lực hàng hải thực sự.
Không gian biển đang trở thành một trong những nguồn lực phát triển chiến lược của Việt Nam, nhưng đây cũng là nguồn lực hữu hạn khi ngày càng nhiều ngành kinh tế cùng tìm kiếm những khu vực có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển. Trong bối cảnh đó, quy hoạch không gian phải trở thành công cụ kiến tạo giá trị, điều phối các lợi ích và tổ chức những không gian phát triển đa mục tiêu…
Đại dương đang được tái định vị từ không gian chủ yếu để khai thác tài nguyên thành không gian tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh chiến lược, đây chính là bối cảnh mới để nhìn nhận kinh tế biển Việt Nam. Phát triển kinh tế biển không còn chỉ là khai thác tốt hơn những nguồn lực Việt Nam đang có, mà còn là xác lập vị trí của Việt Nam trong cấu trúc đang thay đổi của kinh tế đại dương toàn cầu.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Cận thị bệnh lý (cận thị thoái hóa/cận thị ác tính) là dạng cận thị nghiêm trọng và nguy hiểm nhất. Khác với cận thị thông thường, bệnh liên quan đến sự kéo dài bất thường và liên tục của trục nhãn cầu, dẫn đến các tổn thương cấu trúc ở đáy mắt và có nguy cơ cao gây mù lòa.