Việc ban hành Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 của Quốc hội về phân loại đô thị cùng Nghị định số 35/2026/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thực hiện, cho thấy một bước dịch chuyển quan trọng từ đánh giá đô thị chủ yếu dựa trên quy mô sang coi trọng chất lượng phát triển và tiêu chí tăng trưởng xanh.
Theo các quy định mới, phân loại đô thị không còn dừng lại ở các chỉ số quen thuộc như dân số, mật độ hay vai trò trung tâm vùng, mà được bổ sung nhóm tiêu chí phản ánh mức độ bền vững của quá trình phát triển. Trong đó, phát triển đô thị tăng trưởng xanh được xác định là một nội dung xuyên suốt, gắn với quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý đô thị trong dài hạn.
Cách tiếp cận này phản ánh rõ quan điểm: Đô thị không chỉ là không gian tập trung dân cư và hoạt động kinh tế, mà còn là hệ sinh thái sống, nơi các yếu tố hạ tầng, môi trường và con người phải được tổ chức hài hòa. Khi tiêu chí tăng trưởng xanh được đưa vào hệ thống phân loại, đô thị được đặt trước yêu cầu phải chứng minh năng lực phát triển bền vững, chứ không chỉ khả năng mở rộng quy mô.
Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 và Nghị định số 35/2026/NĐ-CP đã làm rõ khái niệm phát triển đô thị tăng trưởng xanh theo hướng dễ áp dụng trong thực tiễn. Đó là quá trình phát triển đô thị gắn với hạ tầng xanh, không gian xanh, công trình xanh và quản lý tài nguyên hiệu quả, phù hợp với điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển của từng đô thị. Tăng trưởng xanh vì vậy không phải là một khẩu hiệu, mà trở thành một tiêu chí đánh giá cụ thể trong tiến trình phân loại và nâng loại đô thị.
Điểm đáng chú ý là các tiêu chí này không mang tính trang trí hay hình thức. Việc đáp ứng các yêu cầu về không gian xanh, bảo vệ hệ sinh thái, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu được xem là một phần cấu thành chất lượng đô thị. Điều này buộc các địa phương, khi xây dựng chương trình phát triển đô thị, phải tính đến các yếu tố môi trường và bền vững ngay từ khâu quy hoạch, thay vì xử lý hậu quả ở giai đoạn sau.
Một trong những nội dung cốt lõi của Nghị định số 35/2026/NĐ-CP là yêu cầu lồng ghép tăng trưởng xanh vào toàn bộ chu trình phát triển đô thị. Từ quy hoạch không gian, đầu tư hạ tầng đến quản lý vận hành, các đô thị được định hướng phát triển theo mô hình tiết kiệm tài nguyên, giảm tác động môi trường và nâng cao chất lượng sống cho cư dân.
Trong đó, hạ tầng xanh được xem là nền tảng. Không gian cây xanh, mặt nước, các hành lang sinh thái và hệ thống thoát nước tự nhiên không chỉ có vai trò cải thiện cảnh quan, mà còn góp phần điều hòa vi khí hậu, giảm ngập và tăng khả năng chống chịu trước các hiện tượng thời tiết cực đoan.
Việc đưa các yếu tố này vào tiêu chí phân loại đô thị cho thấy cách nhìn mới: Hạ tầng không chỉ là đường sá, cầu cống, mà còn bao gồm cả những cấu phần sinh thái thiết yếu.
Bên cạnh đó, phát triển giao thông theo hướng thân thiện môi trường cũng được đặt ra như một yêu cầu quan trọng. Việc ưu tiên giao thông công cộng, giảm phụ thuộc vào phương tiện cá nhân và từng bước thúc đẩy các loại hình giao thông ít phát thải được xem là một phần của quá trình xây dựng đô thị tăng trưởng xanh. Những nội dung này, dù không được quy định dưới dạng chỉ tiêu cứng, nhưng đã trở thành tiêu chí định hướng khi đánh giá chất lượng đô thị.
Một điểm mới khác là vai trò của công trình xanh trong phát triển đô thị. Các công trình sử dụng hiệu quả năng lượng, tiết kiệm nước, giảm phát thải trong quá trình vận hành được khuyến khích như một xu hướng tất yếu. Khi số lượng và tỷ lệ công trình xanh gia tăng, đô thị không chỉ giảm áp lực lên hệ thống hạ tầng kỹ thuật, mà còn từng bước hình thành lối sống đô thị bền vững hơn.
Nghị định cũng nhấn mạnh yếu tố thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai như một nội dung không thể tách rời của phát triển đô thị tăng trưởng xanh. Việc bảo vệ hành lang thoát lũ, hạn chế lấn chiếm không gian tự nhiên và tổ chức phát triển đô thị phù hợp với điều kiện địa hình, thủy văn được coi là yêu cầu bắt buộc. Đây là sự điều chỉnh cần thiết trong bối cảnh nhiều đô thị đang đối mặt với nguy cơ ngập lụt, sụt lún và suy giảm chất lượng môi trường.
Từ góc độ quản lý, việc đưa tiêu chí tăng trưởng xanh vào phân loại đô thị tạo ra một áp lực tích cực đối với chính quyền địa phương. Muốn nâng loại đô thị hoặc duy trì vị thế hiện có, các địa phương không thể chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế và mở rộng không gian xây dựng, mà phải đầu tư bài bản cho các yếu tố bền vững. Điều này góp phần hạn chế tình trạng phát triển nóng, thiếu kiểm soát vốn là nguyên nhân dẫn đến nhiều hệ lụy môi trường trong thời gian qua.
Đáng chú ý, Nghị định yêu cầu các chương trình phát triển đô thị phải được xây dựng theo giai đoạn, gắn với mục tiêu hoàn thiện các tiêu chí phân loại, trong đó có tiêu chí tăng trưởng xanh. Cách tiếp cận này giúp quá trình phát triển đô thị có lộ trình rõ ràng, tránh tình trạng chạy theo danh hiệu đô thị loại cao mà thiếu nền tảng bền vững.
Về dài hạn, việc coi tăng trưởng xanh là một tiêu chí trong phân loại đô thị cũng tạo cơ sở để hình thành hệ thống so sánh và đánh giá giữa các đô thị. Những đô thị đầu tư sớm cho không gian xanh, hạ tầng bền vững và quản lý môi trường hiệu quả sẽ có lợi thế rõ rệt, không chỉ trong phân loại mà còn trong thu hút đầu tư và nâng cao chất lượng sống.
Có thể thấy, với Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 và Nghị định số 35/2026/NĐ-CP, tăng trưởng xanh đã chính thức bước ra khỏi phạm vi định hướng chung để trở thành một chuẩn mực phát triển đô thị. Khi tiêu chí này được áp dụng đồng bộ, phân loại đô thị không chỉ là công cụ quản lý hành chính, mà còn là đòn bẩy thúc đẩy các đô thị chuyển mình theo hướng bền vững và thích ứng tốt hơn với những thách thức trong tương lai.




Sử dụng hệ thống pin tích hợp trong cánh, máy bay E9X của công ty khởi nghiệp Hà Lan Elysian Aircraft được thiết kế để chở 90 hành khách, với tầm bay ban đầu 800 km và mục tiêu đạt 1.000 km. Dự kiến đi vào khai thác năm 2034, mẫu máy bay này được kỳ vọng góp phần giảm đáng kể lượng phát thải của ngành hàng không…
Góp ý kiến vào dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật; đồng thời làm rõ một số nội dung để luật vừa tạo động lực phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ môi trường, chủ quyền và lợi ích quốc gia, hướng mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh...
Theo lộ trình, Việt Nam thực hiện mục tiêu cắt giảm 67,5% lượng tiêu thụ cơ sở HCFC trong giai đoạn 2025-2029, tiến tới giảm 97,5% từ năm 2030 và loại trừ hoàn toàn vào năm 2040. Từ thực tế lượng thiết bị đang sử dụng HCFC-22 hiện nay với nhu cầu môi chất lạnh cho sửa chữa, bảo dưỡng vẫn còn lớn trong khi nguồn mới bị hạn chế đặt ra bài toán thu hồi, tái chế, tái sử dụng, quản lý môi chất theo vòng đời. Tính toán cho thấy Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 1.000 tấn HCFC-22 vào năm 2030…
Nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ việc cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm; nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm; phân cấp nhưng không phân tán; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Nếu giảm tiền kiểm nhưng năng lực hậu kiểm không đáp ứng yêu cầu thì sẽ khó bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường...
Việt Nam đang hoàn thiện khung pháp lý và đẩy mạnh các giải pháp quản lý môi chất lạnh theo Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, hướng tới thu hồi, tái chế xuyên suốt vòng đời thiết bị, góp phần bảo vệ tầng ozone và giảm phát thải khí nhà kính...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi) đang được xem xét tại nghị trường Quốc hội. Đại biểu Quốc hội thẳng thắn đề nghị quy định trong Luật phải bảo đảm về giá đất bồi thường và tái định cư. Không để việc đơn giản hóa phương pháp định giá làm giảm mức bảo vệ người có đất bị thu hồi. Dân di dời đi tạm cư thì phải có thời hạn.