
Một quan chức Bộ Tài chính mới đây đã gọi điện cho người viết để trao đổi về hai con số nợ nước ngoài: 42,2% GDP và 32,5 tỷ USD.
“Một số kênh thông tin đưa lại hai con số này và quy chung là một, cho rằng chỉ khác cách diễn đạt. Như thế thì GDP Việt Nam hụt đi vài chục tỷ USD hay sao. Không làm rõ con số thì thử hỏi giám sát nợ sẽ như thế nào”, quan chức này lo ngại.
Theo giải thích của Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), đây là hai con số hoàn toàn khác nhau, một bên là tỷ lệ nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP, bên còn lại là nợ nước ngoài khu vực công (chỉ bao gồm nợ Chính phủ và được chính phủ bảo lãnh) theo con số tuyệt đối.
Nếu so sánh với GDP năm 2010 được Tổng cục Thống kê công bố là khoảng 104,6 tỷ USD, tỷ lệ 42,2% quy ra vào khoảng 44,1 tỷ USD. Con số này được hiểu là giá trị tuyệt đối của tổng nợ nước ngoài quốc gia tính đến 31/12/2010. Nhưng đáng tiếc là chỉ tiêu này không được đề cập trong bản tin nợ nước ngoài số 7 của Bộ Tài chính, sự thiếu hụt có thể đã gây hiểu nhầm.
Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại Nguyễn Thành Đô giải thích thêm: “Nợ khu vực công bao gồm nợ của chính phủ và chính phủ bảo lãnh, còn nợ quốc gia thì cộng thêm cả các khoản vay thương mại của doanh nghiệp vào nữa”.
Khoan nói đến hệ số ICOR
(đo lường số đơn vị đầu tư tính theo % GDP để tạo ra một đơn vị tăng trưởng GDP - PV)
của khu cực công được cho là lên đến 10, gấp nhiều lần khu vực tư nhân; hay vay ODA chủ yếu đầu tư vào hạ tầng và không có nguồn thu trực tiếp để trả nợ, làm tăng gánh nặng cho ngân sách mà ông Đô đề cập
trong lần trao đổi với VnEconomy gần đây
…, xu hướng tăng vay nước ngoài của doanh nghiệp cũng có nhiều chuyện đáng bàn.
Phó cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại Hoàng Hải nhìn nhận: “Trong những năm gần đây, nợ nước ngoài quốc gia có xu hướng tăng khá nhanh, do việc vay thương mại nước ngoài của doanh nghiệp theo phương thức tự vay tự trả”.
Nếu so sánh con số tổng nợ nước ngoài quốc gia đề cập ở trên với nợ của Chính phủ, tại thời điểm cuối năm 2010 là gần 27,86 tỷ USD, có thể ước tính nợ nước ngoài của khu vực doanh nghiệp (bao gồm cả bảo lãnh và không được bảo lãnh) vào khoảng 16,2 tỷ USD. Con số này đã tăng thêm trên 4 tỷ USD so với cuối năm 2009.
Trong nợ doanh nghiệp, một điểm đáng xem xét khác là nợ do chính phủ bảo lãnh cũng có sự thay đổi tương ứng, từ gần 4 tỷ USD của năm 2009 lên trên mức 4,6 USD vào cuối năm 2010.
Nhìn lại giai đoạn cuối năm 2010, bảo hiểm rủi ro vỡ nợ trái phiếu (CDS) của Việt Nam tăng điểm khá cao mà đi cùng với đánh giá tín nhiệm nợ kém đi là lãi suất tăng tương ứng. Bản tin số 7 cũng đề cập, riêng dư nợ các khoản vay có lãi suất 6-10% đã tăng từ 919 triệu USD vào cuối năm 2009 lên mức 1,89 tỷ USD cuối năm 2010.
Trong bối cảnh này, đánh giá về an toàn nợ của doanh nghiệp, Cục trưởng Đô cho rằng: “Có thể một số khoản nợ nước ngoài của doanh nghiệp thì trả nợ có khó khăn”.
Ở chừng mực nào đó, các chủ đầu tư đều có trách nhiệm xây dựng kế hoạch vay và trả nợ cho dự án của mình. Nhưng với các doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh vay nợ nước ngoài, tình hình đôi khi không như vậy. Nhất là với cơ chế trách nhiệm chung của doanh nghiệp nhà nước.
Báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 24/8 dẫn nguồn một báo cáo của Bộ Xây dựng cho biết, trong số 16 dự án xi măng được Chính phủ bảo lãnh thì có bốn dự án đang gặp khó khăn về trả nợ, và Bộ Tài chính phải trả nợ thay.
Tờ báo cũng thông tin thêm, tổng giá trị vốn vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh cho các dự án xi măng là 1,675 tỉ USD, tương đương 17,92% tổng giá trị vốn vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
Vay thì được tiền, có bảo lãnh mà không trả nổi thì Chính phủ phải gánh giúp, nhiều doanh nghiệp đâm ra “chuộng” kiểu bảo lãnh này. Còn trường hợp sau đây là quá sức tưởng tượng. Tại một hội thảo tổ chức cuối tuần trước, vị nọ nguyên lãnh đạo cấp cao của Ngân hàng Nhà nước cho hay, có trường hợp doanh nghiệp giả chữ ký của ông, đóng dấu như thật cho một thư bảo lãnh sử dụng dự trữ ngoại hối. May mắn là trường hợp này sau đó được phát giác.
Không biết có khoản bảo lãnh giả dối nào “lọt lưới” không, nhưng chỉ riêng việc nhà nước cứ phải đứng ra bảo lãnh rồi lại trả nợ thay cũng thấy rằng, tiền đóng thuế của dân đang bị doanh nghiệp lợi dụng.
Ở một góc nhìn khác, trong khi quan điểm từ phía các cơ quan chức năng cho rằng, vốn vay nước ngoài đang hỗ trợ tích cực cho phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là cơ sở hạ tầng trọng yếu, thì rõ ràng việc định lượng thế nào là hiệu quả còn gây tranh cãi.
“Đối với vấn đề này
(nợ nước ngoài của doanh nghiệp tăng nhanh - PV)
, Bộ Tài chính đã phối hợp với Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành có liên quan để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, theo đó, sẽ tiếp tục giám sát chặt chẽ việc vay nợ nước ngoài không vượt quá kế hoạch vay và trả nợ nước ngoài hàng năm, đồng thời xác định danh mục ưu tiên các chương trình, dự án sử dụng vốn vay nước ngoài giai đoạn 2011- 2015, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định”, Phó cục trưởng Hoàng Hải thông tin thêm.
Gỗ và sản phẩm gỗ là một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, những vướng mắc trong xác định nguồn gốc gỗ rừng trồng nhập khẩu, phân loại gỗ sơ chế và xử lý thuế VAT đang khiến doanh nghiệp phát sinh chi phí, tồn đọng vốn và gặp khó trong kế hoạch sản xuất...
Bộ Tài chính dự kiến sửa đổi Nghị định số 181/2025/NĐ-CP, loại bỏ một số mặt hàng khoáng sản gồm nhôm, đồng, kẽm và thiếc tại phụ lục II. Từ đó, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong ngành chủ động mở rộng quy mô sản xuất, tối ưu hóa giá thành...
Giá trúng đấu giá cao nếu được sử dụng trực tiếp làm dữ liệu tham chiếu mà không đánh giá các yếu tố hình thành giá có thể đẩy mặt bằng định giá những khu đất tương tự lên cao. Sai lệch từ đó có nguy cơ tiếp tục lặp lại qua các vòng định giá tiếp theo. Do đó, bài toán đặt ra là sàng lọc, phân tích dữ liệu như thế nào để giá đất phản ánh sát giá trị thị trường…
Các chuyên gia cho rằng giá nhà là kết quả của nhiều yếu tố, từ chi phí đất đai, xây dựng đến quan hệ cung cầu và khả năng chi trả của người mua. Bởi vậy, bài toán hạ giá nhà không chỉ dừng ở việc giảm tiền sử dụng đất, mà còn phải kiểm soát chất lượng dữ liệu định giá và có cơ chế để phần chi phí được tiết giảm thực sự chuyển thành lợi ích cho bên thụ hưởng cuối cùng...
Ngày 12/10, Bộ Tài chính gửi công văn đến các Sở Tài chính địa phương yêu cầu đẩy nhanh tiến độ giải quyết thủ tục giải thể doanh nghiệp, trong đó cơ quan đăng ký kinh doanh xử lý hồ sơ trong 1 ngày làm việc, cơ quan thuế phản hồi trong 2 ngày và doanh nghiệp không nộp hồ sơ giải thể sẽ được chuyển trạng thái pháp lý sau 180 ngày nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.