
Theo ông Triệu Cẩm Quang, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hồng Kông tại Việt Nam, Việt Nam là một thị trường hấp dẫn đối với các doanh nghiệp Hồng Kông.
Sau đây là nội dung cuộc trao đổi của chúng tôi với ông Triệu Cẩm Quang.
Xin ông giới thiệu đôi nét về Hiệp hội Doanh nghiệp Hồng Kông tại Việt Nam?
Hiệp hội Doanh nghiệp Hồng Kông tại Việt Nam là một tổ chức phi lợi nhuận, là nơi tập hợp các doanh nghiệp Hồng Kông hoạt động ở Việt Nam.
Năm 1999, hiệp hội thành lập văn phòng tại Tp.HCM và đến nay đang xúc tiến thành lập chi nhánh tại Hà Nội.
Mục đích của hiệp hội là nhằm giúp đỡ, hỗ trợ các doanh nghiệp của Hồng Kông và Việt Nam đi đến giao thương một cách thiết thực nhất, hiệu quả nhất.
Chúng tôi cung cấp miễn phí thông tin thị trường hai chiều, giới thiệu doanh nghiệp và nhu cầu của doanh nghiệp hai nước, giúp các doanh nghiệp trong lĩnh vực điều tra thị trường, tư vấn đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp Hồng Kông làm thủ tục đầu tư tại Việt Nam, hỗ trợ thông tin về pháp luật.
Ngoài ra, chúng tôi cũng thường xuyên tổ chức các hội thảo, hội nghị giao thương theo chuyên ngành, tổ chức cho các đoàn doanh nghiệp hai nước tham gia triển lãm, giới thiệu sản phẩm, tổ chức cho doanh nghiệp Hồng Kông đến Việt Nam khảo sát, tìm hiểu, tiếp xúc với các doanh nghiệp Việt Nam cũng như môi trường đầu tư của các địa phương Việt Nam và ngược lại...
Các doanh nhân Hồng Kông đánh giá như thế nào về môi trường đầu tư của Việt Nam?
Chúng tôi đánh giá Việt Nam là thị trường tiềm năng. Bởi lẽ kinh tế Việt Nam đang đà phát triển mạnh, chính trị ổn định, lực lượng lao động dồi dào, mức chi trả (lương) cạnh tranh.
Với chủ trương phát triển kinh tế theo xu thế hội nhập quốc tế, Chính phủ, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp trên toàn cầu đến đây đầu tư.
Chính sách kinh tế ngày càng được cải thiện và các thủ tục hành chính cũng từng bước được đơn giản hoá, vv là những ưu thế giúp Việt Nam thu hút mạnh nguồn lực đầu tư từ nước ngoài. Vì vậy nhiều doanh nghiệp Hồng Kông đã chú trọng và có kế hoạch đến khai thác thị trường Việt Nam.
Họ thường quan tâm đầu tư vào lĩnh vực nào ở Việt Nam, thưa ông?
Các doanh nghiệp Hồng Kông có nhiều thế mạnh đầu tư vào Việt Nam nhưng chủ yếu đầu tư vào các ngành may mặc, thông tin viễn thông, chế biến nông sản, thực phẩm, xây dựng cảng, thị trường chứng khoán... và nhất là đầu tư vào bất động sản.
Vì thế, sắp tới, chúng tôi sẽ tổ chức số cuộc hội thảo về thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản tại Việt Nam cho các doanh nghiệp Hồng Kông muốn quan tâm.
Theo ông, đâu là những khó khăn của các doanh nghiệp Hồng Kông khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam?
Điều khiến các doanh nghiệp băn khoăn nhất là thủ tục đầu tư, thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam. Công việc này còn nhiều vướng mắc và mất khá nhiều thời gian.
Các nhà đầu tư bất động sản của Hồng Kông cũng nhận thấy tiềm năng của thị trường bất động sản tại các thành phố lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, ở đây, đất đai lại không đủ rộng để triển khai những dự án lớn.
Ngoài ra, một số lĩnh vực vốn là ưu thế của nhiều công ty tại Hồng Kông thì Chính phủ Việt Nam chưa cho phép công ty 100% vốn nước ngoài được khai thác.
Đặc biệt, các nhà đầu tư rất lo ngại về cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông của Việt Nam còn yếu kém và chưa đồng bộ. Những điều này ảnh hưởng nhiều đến quyết định đầu tư của các thương gia Hồng Kông sang Việt Nam.
Vậy ông có nhận định gì về triển vọng hợp tác giữa các doanh nghiệp của Việt Nam-Hồng Kông trong thời gian tới ?
Năm 2006, quan hệ thương mại Việt Nam-Hồng Kông đạt hơn 2 tỷ USD. Tính đến năm 2006, Hồng Kông đã có 375 dự án tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 5,2 tỷ USD. Có rất nhiều yếu tố tác động đến môi trường đầu tư của Việt Nam trong thời gian tới.
Các công ty của Việt Nam hiện đã phát triển nhanh cả về số lượng, quy mô và chất lượng. Họ đang nỗ lực đa dạng hóa lĩnh vực sản xuất kinh doanh và mở rộng hợp tác quốc tế. Việt Nam vừa trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại quốc tế.
Có thể nói đất nước này đang là điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch cũng như các nhà đầu tư ngoại quốc. Với những lợi thế đó, chắc chắn Việt Nam sẽ thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có không ít doanh nghiệp đến từ Hồng Kông.
Sau 10 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Hà Tĩnh đạt hơn 1,59 tỷ USD, giảm 1,58% so với cùng kỳ và mới đạt 72,3% kế hoạch cả năm. Khi thời gian của năm không còn nhiều, việc phụ thuộc lớn vào mặt hàng thép cùng những biến động bất lợi từ thương mại toàn cầu đang tạo sức ép mục tiêu xuất khẩu 2,2 tỷ USD...
10 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam chính thức cán mốc kỷ lục 1.010,6 tỷ USD. Đây là cơ sở quan trọng để Bộ Công Thương hoàn thiện Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu giai đoạn mới, hướng tới đưa Việt Nam vào tốp 10 quốc gia thương mại hàng đầu thế giới...
Giá trị lớn nhất của VIFTA không dừng lại ở việc mở rộng thị trường hay ưu đãi thuế quan, mà là cơ hội hình thành cầu nối chiến lược về công nghệ, đầu tư và đổi mới sáng tạo, từ đó tạo nền tảng nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu...
Doanh nghiệp Malaysia đang tìm kiếm đối tác Việt Nam trong nhiều lĩnh vực dược phẩm và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe; sản phẩm tiêu dùng, chăm sóc cá nhân, hàng tiện lợi, gia dụng, thực phẩm và hàng hóa công nghiệp…
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), cho rằng rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là đáp ứng tiêu chuẩn của khối FDI, mà còn nằm ở mạng lưới cung ứng sẵn có của các tập đoàn này. Do đó cần có sự cởi mở hơn từ doanh nghiệp FDI và thay đổi cách tiếp cận trong hỗ trợ nhà cung ứng trong nước, qua đó thúc đẩy kết nối và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Năm 2027, tổng nguồn cung đất san lấp, đá và cát xây dựng tại Thanh Hóa dự kiến đạt hơn 42 triệu m3. Việc đưa thêm các mỏ vào khai thác, kết hợp nguồn vật liệu từ các dự án thu hồi khoáng sản và sản xuất cát nhân tạo được kỳ vọng góp phần giảm áp lực thiếu hụt vật liệu phục vụ các công trình, dự án trên địa bàn.