
Tại hội thảo “Những vấn đề đặt ra đối với dự án BOT và vai trò của Kiểm toán Nhà nước” ngày 15/9, Ngân hàng Nhà nước giải thích chi tiết nguyên do liên tiếp cảnh báo về hoạt động cho vay các dự án BOT, BT giao thông trong hơn một năm qua.
Dồn nguồn vốn lớn
Đầu năm 2015, trao đổi với VnEconomy, ông Nguyễn Hữu Nghĩa, Chánh thanh tra Ngân hàng Nhà nước khi đó nhấn mạnh: nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước cũng như Cơ quan Thanh tra giám sát không chỉ là giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng, mà còn phải tập trung công tác dự báo và cảnh báo.
Tại thời điểm đó, ông Nghĩa cho biết, bên cạnh lĩnh vực dầu khí, lĩnh vực cho vay mà Ngân hàng Nhà nước lo ngại là các dự án BOT, BT giao thông.
Tuy nhiên, trong những năm 2014-2015, nhiều dự án lớn thuộc lĩnh vực trên khánh thành, góp phần tạo bối cảnh tốt trong các dòng chảy thông tin, mà những cảnh báo liên quan chủ yếu mang tính nội bộ.
Phải đến ngày 15/7/2015, Ngân hàng Nhà nước mới nhấn mạnh và cụ thể hơn ở Chỉ thị số 05 về tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông.
Tiếp đó, đầu 2016, cơ quan quản lý các tổ chức tín dụng tiếp tục có các chỉ thị, công văn cảnh báo thêm về hoạt động cho vay ở lĩnh vực này.
Tại hội thảo nói trên, một lần nữa Ngân hàng Nhà nước đề cập đến cảnh báo rủi ro và có những lý giải liên quan.
Ngân hàng Nhà nước cho biết, trong thời gian qua, ngành ngân hàng đã dành nguồn vốn lớn cho đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, chiếm từ 85-90% tổng mức đầu tư của các dự án BOT có tài trợ vốn của ngân hàng. Từ năm 2014 tới nay, cam kết cấp tín dụng, dư nợ cấp tín dụng của các ngân hàng đối với các dự án BOT, BT giao thông có mức tăng trưởng cao.
Tính đến 30/6/2016, chỉ tính riêng các ngân hàng thương mại, tổng mức cam kết cấp tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông với là 159.204 tỷ đồng; tổng số dư cấp tín dụng là 83.611 tỷ đồng, tăng 12,43%so với cuối năm 2015. Chỉ tính riêng ba ngân hàng BIDV, VietinBank và SHB có tổng hạn mức cấp tín dụng chiếm 85,64%, dư nợ chiếm 85,3% so với ngành.
Việc tăng trưởng nguồn vốn tín dụng đầu tư vào các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư trong nước nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc và tiềm ẩn rủi ro.
Tuy nhiên, theo Ngân hàng Nhà nước, hiện nay vướng mắc lớn nhất của ngành ngân hàng khi cho vay các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông xuất phát từ chính các dự án được chủ đầu tư đề nghị vay vốn, như năng lực tài chính của một số nhà đầu tư còn yếu kém, không đủ vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án theo đúng cam kết dẫn đến phải dừng thực hiện dự án.
“Nhiều dự án bị chậm tiến độ do năng lực thi công của nhà thầu không đáp ứng yêu cầu, tiến độ giải phóng mặt bằng chậm. Nhiều dự án trong quá trình thực hiện bị tăng tổng mức đầu tư ảnh hưởng đến hiệu quả dự án, cũng như rất khó khăn trong việc tìm nguồn vốn bổ sung để tiếp tục thực hiện dự án và trả nợ ngân hàng”, Ngân hàng Nhà nước cho biết.
Tiếp tục giám sát
Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, trong tổng số 150 dự án BOT, BT giao thông ngân hàng tài trợ vốn, hiện nay có 22 dự án bị chậm tiến độ (với tổng hạn mức cấp tín dụng là 20.347 tỷ đồng, dư nợ cấp tín dụng là 11.122,6 tỷ đồng). Nguyên nhân chủ yếu là do giải phóng mặt bằng, tăng tổng mức đầu tư hoặc không đủ vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án.
Đặc điểm của các dự án thuộc lĩnh vực giao thông thường có tổng mức đầu tư rất lớn, có nhu cầu nguồn vốn dài hạn và thời gian thu vốn dài (khoảng 20-25 năm), trong khi nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn.
“Việc cho vay với lượng vốn lớn, dài hạn sẽ khó khăn cho các tổ chức tín dụng trong việc cân đối nguồn vốn, tiềm ẩn rủi ro thanh khoản. Tài sản bảo đảm cho dự án BOT, BT chủ yếu tài sản hình thành từ vốn vay nên rất khó định giá, tiềm ẩn rủi ro cao nếu lưu lượng xe, doanh thu không đạt như dự kiến, gây nhiều khó khăn cho tổ chức tín dụng trong việc thu hồi vốn và xử lý tài sản đảm bảo”, Ngân hàng Nhà nước phân tích.
Bên cạnh đó một số thông tư hướng dẫn Nghị định 15/2015/NĐ-CP chậm ban hành, tính ổn định của chính sách không cao, đặc biệt là việc thay đổi chính sách về thu phí của Nhà nước đối với các dự án BOT (giảm mức thu phí so với hiện hành hoặc chưa được thực hiện lộ trình tăng phí theo quy định tại Thông tư 159/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính), theo Ngân hàng Nhà nước, tiềm ẩn rủi ro rất lớn cho ngân hàng khi cấp tín dụng, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nợ của ngân hàng.
Trong trường hợp rủi ro xảy ra, ngân hàng phải cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng, tăng nợ xấu, tăng trích lập dự phòng, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng.
Với những phân tích và thực tế trên, Ngân hàng Nhà nước cho biết, trong thời gian tới, cơ quan này sẽ tiếp tục giám sát chặt chẽ tình hình cấp tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông và có chỉ đạo kịp thời đối với các tổ chức tín dụng nhằm kiểm soát rủi ro.
TP.Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình qua Trung tâm Tài chính Quốc tế, hướng tới hình thành chương trình huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm...
Sau kế hoạch chuyển toàn bộ cổ phiếu niêm yết về Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE), cơ quan quản lý tiếp tục tính toán phương án tổ chức lại cách vận hành thị trường với nhiều thay đổi như giao dịch xuyên trưa, nới biên độ dao động giá và rút ngắn thời gian thanh toán…
Quy mô thị trường trái phiếu xanh Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với quy mô tín dụng xanh, trong khi nhiều dự án chuyển đổi xanh cần nguồn vốn trung và dài hạn. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore và Nhật Bản cho thấy Nhà nước có thể hỗ trợ những chi phí đang cản trở doanh nghiệp bước vào thị trường vốn xanh.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, có yêu cầu về nguồn lực cho tăng trưởng sẽ lớn hơn, dài hạn hơn và đa dạng hơn đáng kể so với trước. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 được đặt ở mức từ 10%/năm trở lên, cùng với yêu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là nền kinh tế cần thêm bao nhiêu vốn, mà là nguồn lực đó sẽ được huy động từ đâu, dẫn truyền qua kênh nào và phân bổ như thế nào để tạo ra hiệu quả tăng trưởng cao nhất?
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, việc Việt Nam nghiên cứu khả năng phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của thị trường. Nếu phương án này được thông qua và triển khai, đợt phát hành mới không chỉ mở lại một kênh huy động vốn mà còn là cơ hội để Việt Nam tái thiết lập đường cong lợi suất chuẩn, mở rộng cơ sở nhà đầu tư quốc tế và tạo điểm tham chiếu cho các đợt phát hành trái phiếu tiếp theo trên thị trường quốc tế.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là một chiến lược dài hạn, đòi hỏi sự chuyển đổi đồng bộ từ tư duy phát triển, mô hình quản trị đến cách khai thác và sử dụng nguồn lực biển.