Theo kế hoạch, Bộ Công Thương sẽ tập trung cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp của Chiến lược phát triển dịch vụ logistics đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025.
Kế hoạch hành động này được xây dựng trên cơ sở kế thừa những thành công của giai đoạn 2017 - 2021, đồng thời điều chỉnh để thích ứng với các thay đổi lớn về địa giới hành chính và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền từ tháng 7/2025. Mục tiêu cốt lõi là biến logistics thành ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.
Để cụ thể hóa mục tiêu đưa logistics Việt Nam trở thành ngành kinh tế quan trọng, Bộ Công Thương đã xác định 9 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu.
Thứ nhất: Hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả quản lý. Nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng một khung pháp lý đồng bộ và minh bạch.
Theo đó, Bộ Công Thương sẽ tập trung rà soát toàn diện và đề xuất sửa đổi Nghị định số 163/2017/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ logistics. Việc này nhằm tháo gỡ triệt để các rào cản pháp lý, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế.
Bên cạnh đó, các tiêu chí phân loại, phân hạng trung tâm logistics sẽ được làm rõ. Bộ cũng sẽ hoàn thiện cơ chế quản lý đặc thù đối với logistics xuyên biên giới, logistics phục vụ thương mại điện tử và các chuỗi cung ứng xuất khẩu trọng điểm. Hệ thống thống kê và bộ tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh sẽ được thiết lập để theo dõi sát sao tiến trình phát triển của ngành.
Thứ hai: Đầu tư, xây dựng, hình thành và phát triển kết cấu hạ tầng logistics đồng bộ, hiện đại.
Chiến lược mới ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng logistics gắn liền với hạ tầng thương mại như kho lạnh, trung tâm phân phối và kho thương mại điện tử chuyên dụng. Một Kế hoạch tổng thể phát triển hệ thống trung tâm logistics trên phạm vi cả nước sẽ được xây dựng, đảm bảo tính kết nối với mạng lưới giao thông vận tải, cảng biển và cửa khẩu.
Đặc biệt, việc hình thành các khu thương mại tự do gắn với cảng hàng không và cảng biển quốc tế sẽ là nền tảng để thu hút hàng hóa trung chuyển quốc tế, tạo ra các dịch vụ logistics giá trị gia tăng cao. Tại các đô thị lớn, các trung tâm phân loại và xử lý đơn hàng ứng dụng công nghệ tự động hóa sẽ được ưu tiên đầu tư để phục vụ làn sóng thương mại điện tử xuyên biên giới.
Thứ ba: Thúc đẩy liên kết vùng trong phát triển dịch vụ logistics. Bộ Công Thương tập trung phát huy vai trò điều phối, kết nối và thúc đẩy liên kết vùng trong phát triển dịch vụ logistics, gắn với tổ chức thị trường trong nước, kết nối vùng sản xuất với vùng tiêu thụ, giảm tầng nấc trung gian và chi phí lưu thông, bảo đảm phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội và lợi thế của từng vùng, từng địa phương.
Trọng tâm là phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương thúc đẩy hình thành và phát triển các vùng động lực tăng trưởng dịch vụ logistics tại Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long. Tăng cường kết nối logistics giữa các vùng sản xuất, vùng tiêu thụ, cửa khẩu, cảng biến, cảng hàng không và thị trường quốc tế.
Đẩy mạnh kết nối logistics xuyên biên giới, logistics quá cảnh và trung chuyển hàng hóa theo các hành lang kinh tế trọng điểm, đặc biệt là các hành lang kết nối Việt Nam với Trung Quốc, ASEAN và các khu vực lân cận. Thúc đẩy hợp tác logistics với các quốc gia đối tác trong khuôn khổ các hiệp định thương mại tự do.
Thứ tư: Xây dựng nguồn hàng, phát triển thị trường logistics. Bộ Công Thương tập trung xây dựng và triển khai các giải pháp phát triển nguồn hàng ổn định, bền vững cho dịch vụ logistics, gắn với tái cơ cấu ngành Công Thương, phát triển sản xuất, xuất khẩu, lưu thông phân phối hàng hóa trong nước, nhất là hệ thống bán buôn, bán lẻ, bảo đảm cung ứng hàng hóa thiết yếu, bình ổn thị trường, dự trữ và điều phối hàng hóa.
Trọng tâm là xây dựng Kế hoạch phát triển dịch vụ logistics gắn với tái cơ cấu các ngành công nghiệp, thương mại, xuất khẩu chủ lực; thúc đẩy logistics phục vụ nông sản, hàng công nghiệp chế biến, chế tạo, hàng tiêu dùng và thương mại điện tử.
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kết nối giao thương, thu hút các tập đoàn phân phối, chủ hàng lớn trong và ngoài nước tham gia phát triển thị trường logistics; hỗ trợ phát triển các dịch vụ logistics chuyên biệt, logistics xuyên biên giới và logistics trung chuyển, quá cảnh.
Thứ năm: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dịch vụ logistics và chất lượng dịch vụ logistics. Bộ Công Thương tập trung hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, hướng tới hình thành các doanh nghiệp logistics có quy mô, năng lực cung ứng dịch vụ tích hợp, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Trọng tâm là hỗ trợ doanh nghiệp logistics đa dạng hóa dịch vụ, phát triển các mô hình cung ứng dịch vụ logistics tích hợp (3PL, 4PL, SPL); nâng cao năng lực quản trị, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng. Tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp logistics trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hỗ trợ các doanh nghiệp logistics tăng tỷ trọng của các dịch vụ có giá trị gia tăng cao, các dịch vụ tích hợp; tăng thị phần của các doanh nghiệp Việt Nam trong các dịch vụ logistics có giá trị gia tăng cao, logistics dự án.
Thứ sáu: Đẩy mạnh nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong lĩnh vực dịch vụ logistics. Trọng tâm là triển khai Chương trình chuyển đổi số trong lĩnh vực logistics; phát triển các nền tảng số, cơ sở dữ liệu quốc gia về thị trường dịch vụ logistics, doanh nghiệp dịch vụ logistics, bản đồ số về hạ tầng logistics; hỗ trợ doanh nghiệp logistics ứng dụng công nghệ mới, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong quản lý và vận hành.
Đồng thời, xây dựng và triển khai Chương trình chuyển đổi xanh trong logistics; thúc đẩy logistics xanh, logistics ngược, sử dụng năng lượng sạch, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Thứ bảy: Phát triển nguồn nhân lực logistics chất lượng cao. Đây là yếu tố quyết định sự thành công lâu dài. Kế hoạch đề ra việc tổ chức đào tạo bài bản cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và phối hợp với các hiệp hội để bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ lao động trong doanh nghiệp.
Thứ tám: Nâng cao vai trò của các hiệp hội và các doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực dịch vụ logistics, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng và đối thoại chính sách. Trọng tâm là tổ chức thường niên Diễn đàn Logistics Việt Nam; tăng cường cơ chế đối thoại chính sách giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp và hiệp hội; hỗ trợ hình thành và phát triển các doanh nghiệp logistics tiên phong.
Thứ chín: Bộ Công Thương tập trung thực hiện các nhiệm vụ hỗ trợ, điều phối và giám sát việc triển khai Kế hoạch hành động; nâng cao chất lượng công tác thông tin, truyền thông và dự báo thị trường logistics.
Hội chợ triển lãm Nông nghiệp quốc tế lần thứ 26 (AgroViet 2026) diễn ra từ ngày 12 - 15/11 tại Hà Nội, với sự tham gia của hơn 100 đơn vị, doanh nghiệp trong nước và quốc tế giới thiệu nông sản, công nghệ và thiết bị phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững...
Đứng trước nguy cơ chịu mức thuế tự vệ bổ sung lên tới 65% cho lượng hàng vượt hạn ngạch, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam được khuyến nghị cần nhanh chóng rà soát kế hoạch giao hàng và gửi ý kiến phản hồi trước ngày 22/11/2026...
Để đưa thị trường giao dịch hàng hóa Việt Nam bứt phá trong giai đoạn mới, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải tái cấu trúc thể chế theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch, công bằng, đồng bộ, thống nhất và tiệm cận với thông lệ quốc tế...
10 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Nghệ An đạt hơn 5,77 tỷ USD, tăng 52,73% so với cùng kỳ và vượt 15,45% kế hoạch cả năm. Tuy nhiên, khi khu vực FDI chiếm hơn 80% kim ngạch xuất khẩu, bài toán nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước và đa dạng hóa cơ cấu hàng hóa vẫn đặt ra yêu cầu...
Để phát huy lợi thế có nhiều đầu mối hạ tầng đa dạng quan trọng, từ sân bay Long Thành, hệ thống cảng biển, đến các khu công nghiệp và mạng lưới giao thông liên vùng, Đồng Nai đặt mục tiêu hình thành hệ sinh thái logistics thông minh, kết nối đa phương thức...
Từ những công trình kiến trúc cổ kính đến không gian Hoàng cung được tái hiện bằng công nghệ số, di sản Huế đang được kể lại bằng ngôn ngữ mới, đưa những câu chuyện lịch sử đến gần hơn với thế hệ trẻ.
Ngành dầu khí Việt Nam đang đối mặt với những thách thức mang tính cơ cấu. Nhiều mỏ chủ lực đã bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng tự nhiên sau nhiều thập kỷ khai thác. Vậy đâu là hướng đi để ngành dầu khí vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa tạo động lực tăng trưởng bền vững trong kỷ nguyên xanh?