cua lột sốngmua cua lột ở đâucua lột có hóa đơntin tức tổng hợp

Khai mở các thị trường mới để “hãm” đà giảm của xuất khẩu

Nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường truyền thống sụt giảm; thiếu đơn hàng; xu hướng gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại…là những nguyên nhân đã và đang tác động mạnh đến kết quả xuất khẩu của Việt Nam… Vì thế, việc khai mở thị trường mới sẽ là giải pháp hiệu quả để “hãm” đà giảm của xuất khẩu trong thời gian tới…

Xuất khẩu Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều khó khăn trong thời gian tới.
Xuất khẩu Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều khó khăn trong thời gian tới.

Theo số liệu thống kê sơ bộ mới nhất vừa được Tổng cục Hải quan công bố, trong kỳ 1 tháng 4/2023 (từ ngày 1/4 đến ngày 15/4/2023), tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 26,08 tỷ USD, giảm 15,3% (tương ứng giảm 4,71 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 3/2023. 

NHIỀU NHÓM HÀNG CHỦ LỰC GIẢM MẠNH

Kết quả đạt được trong nửa đầu tháng 4/2023 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước đến hết ngày 15/4/2023 đạt 179,74 tỷ USD, giảm 14,6% (tương ứng giảm 30,7 tỷ USD về số tuyệt đối) so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 125,56 tỷ USD, giảm 14,2% (tương ứng giảm 20,7 tỷ USD).

Cụ thể, về xuất khẩu, trong kỳ 1 tháng 4/2023 đạt 13,24 tỷ USD, giảm 19,2% (tương ứng giảm 3,14 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kỳ 2 tháng 3/2023.

Một số nhóm hàng có trị giá xuất khẩu kỳ 1 tháng 4/2023 giảm so với kỳ 2 tháng 3/2023, gồm: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 672 triệu USD (tương ứng giảm 25,2%); điện thoại các loại và linh kiện giảm 565 triệu USD (tương ứng giảm 22,9%); máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác giảm 434 triệu USD (tương ứng giảm 21,7%); sắt thép các loại giảm 230 triệu USD (tương ứng giảm 47,7%); hàng dệt may giảm 211 triệu USD (tương ứng giảm 15,2%)...

Như vậy, tính từ đầu năm đến hết 15/4/2023, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 92,5 tỷ USD, giảm 12,1% (tương ứng giảm 12,73 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2022.

Trong đó, một số nhóm hàng giảm như: điện thoại các loại và linh kiện giảm 2,71 tỷ USD (tương ứng giảm 15%); hàng dệt may giảm 1,84 tỷ USD (tương ứng giảm 18,1%); gỗ và sản phẩm gỗ giảm 1,45 tỷ USD (tương ứng giảm 30,3%); giày dép giảm 1,05 tỷ USD (tương ứng giảm 16,8%)... so với cùng kỳ năm 2022.

Trị giá xuất khẩu của một số nhóm hàng lớn lũy kế từ 01/01/2023 đến 15/4/2023và cùng kỳ năm 2022. Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Trị giá xuất khẩu của một số nhóm hàng lớn lũy kế từ 01/01/2023 đến 15/4/2023và cùng kỳ năm 2022. Nguồn: Tổng cục Hải quan.

Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy, trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 1 tháng 4/2023 đạt 9,56 tỷ USD, giảm 20,5% (tương ứng giảm 2,47 tỷ USD) so với kỳ 2 tháng 3/2023.

Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/4/2023, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của nhóm các doanh nghiệp FDI đạt 68,6 tỷ USD, giảm 11% (tương ứng giảm 8,48 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 74,2% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.

Từ chiều ngược lại, tổng trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 4/2023 đạt 12,84 tỷ USD, giảm 10,9% (tương ứng giảm 1,56 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 3/2023.

Trị giá nhập khẩu hàng hóa trong kỳ 1 tháng 4/2023 giảm so với kỳ 2 tháng 3/2023 chủ yếu ở một số nhóm hàng sau: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 448 triệu USD (tương ứng giảm 12,7%); máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác giảm 264 triệu USD (tương ứng giảm 14,2%); sắt thép các loại giảm 138 triệu USD (tương ứng giảm 24,5%)...

Như vậy, tính từ đầu năm đến hết 15/4/2023, tổng trị giá nhập khẩu của cả nước đạt 87,24 tỷ USD, giảm 17,1% (tương ứng giảm 17,97 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2022.

Trong đó một số nhóm hàng giảm mạnh như: điện thoại các loại và linh kiện giảm 4,29 tỷ USD (tương ứng giảm 65,3%); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 3,4 tỷ USD (tương ứng giảm 13,2%); máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác giảm 1,83 tỷ USD (tương ứng giảm 14,5%) so với cùng kỳ năm 2022.

Trị giá nhập khẩu của một số nhóm hàng lớn lũy kế từ 01/01/2023 đến 15/4/2023 và cùng kỳ năm 2022. Nguồn: Tổng cục Hải quan
Trị giá nhập khẩu của một số nhóm hàng lớn lũy kế từ 01/01/2023 đến 15/4/2023 và cùng kỳ năm 2022. Nguồn: Tổng cục Hải quan

Trị giá nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 1 tháng 4/2023 đạt 8,28 tỷ USD, giảm 8,6% (tương ứng giảm 779 triệu USD) so với kỳ 2 tháng 3/2023.

Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/4/2023, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm các doanh nghiệp FDI đạt 56,96 tỷ USD, giảm 17,7% (tương ứng giảm 12,26 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2022, chiếm 65,3% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.

Với kết quả trên, trong kỳ 1 tháng 4/2023, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 398 triệu USD. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/4/2023, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 5,25 tỷ USD.

KHẨN TRƯƠNG MỞ CỬA CÁC THỊ TRƯỜNG MỚI

Lý giải về nguyên nhân sụt giảm của xuất khẩu, Bộ Công Thương cho rằng là do yếu tố thị trường xuất khẩu, các ngành hàng đều gặp khó khăn do lạm phát cao, giảm tổng cầu trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là hàng hoá tiêu dùng không thiết yếu. Tuy nhiên, tác động đến từng ngành hàng có sự khác nhau.

Cụ thể, những ngành hàng có thị trường xuất khẩu chính là Hoa Kỳ, EU,.. như dệt may, da giày, gỗ, thuỷ sản có mức sụt giảm nhiều nhất; trong khi các ngành hàng có thị trường xuất khẩu chính là châu Á như cao su, gạo, rau quả, hạt điều... ít chịu tác động hơn.

Bên cạnh đó, một số ngành hàng như thuỷ sản, gỗ và sản phẩm gỗ, sắt thép, sản phẩm nhựa đang đối mặt với các áp lực về điều tra phòng vệ thương mại. Vấn đề chi phí nguyên liệu vật tư đầu vào tăng cao cũng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu.

Tại hội nghị “Tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu” do Bộ Công Thương tổ chức ngày 25/4, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cũng đã nhấn mạnh: “Phải hỗ trợ doanh nghiệp có đơn hàng, bởi vì thời điểm này mất đơn hàng là mất thị trường”.

Chính vì vậy, để hỗ trợ cho việc tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu và mở rộng thị trường, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đã yêu cầu các đơn vị (Cục Xúc tiến thương mại, Cục Xuất nhập khẩu, Cục Phòng vệ thương mại, Vụ Chính sách thương mại đa biên và các vụ thị trường trong và ngoài nước, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia) chú trọng làm tốt công tác thông tin thị trường, nhất là thị trường tiềm năng thông qua việc tổ chức hội nghị giao ban định kỳ hàng tháng giữa Thương vụ Việt Nam với Hiệp hội ngành hàng và các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu lớn trong nước.

Bên cạnh đó, đổi mới, nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại, đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, nhất là thương mại điện tử xuyên biên giới nhằm thúc đẩy các chuỗi cung ứng, liên thông, mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu; đồng thời cần tiếp tục theo sát diễn biến của kinh tế thế giới nhất là chính sách và động thái chính sách mới của các nước lớn, các nước có tầm ảnh hưởng…. để tham mưu, tư vấn, phản ứng chính sách phù hợp…

Đặc biệt, chú trọng hướng dẫn, giúp đỡ các hiệp hội và doanh nghiệp khai thác, phát huy các thị trường truyền thống và khai mở thị trường mới, giàu tiềm năng như Bắc Âu, Đông Âu, Tây Á, Nam Á, châu Phi và Mỹ La tinh. Đồng thời khẩn trương hoàn tất các thủ tục cần thiết để ký Hiệp định thương mại tự do (FTA) với Israel, đẩy nhanh tiến độ đàm phán với UAE để vào thị trường Trung Đông và biến các FTA này thành động lực để khai thác thị trường Châu Mỹ La tinh, bao gồm: Brazil, Argentina, Paraguay và Uruguay...

Xuất khẩu rau quả tăng tốc, mốc kỷ lục 10 tỷ USD đã rất gần

Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...

Chuyển đổi nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng để gia tăng giá trị

Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.

Sơn La phát triển cà phê Arabica theo hướng sinh thái, bền vững

Với khoảng 44.000 ha cà phê Arabica, Sơn La đang hướng tới phát triển ngành hàng theo hướng sinh thái, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị xuất khẩu. Trước thách thức của biến đổi khí hậu và các yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, tỉnh xác định đẩy mạnh canh tác bền vững, chuyển đổi số, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị, hướng tới mục tiêu đạt 100.000 tấn cà phê nhân vào năm 2030...

Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy