
Khi kết quả cuối cùng đang hình thành, so sánh ắt được đặt ra. Một chủ trương đúng, song việc thực hiện có thể gây băn khoăn với những người trong cuộc.
Đến thời điểm này đã có gần 20 ngân hàng thương mại chủ động công bố
chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2012 mà Ngân hàng Nhà nước giao
. Chủ yếu là các thành viên nhóm 1 và nhóm 2. Nhóm 3 và nhóm 4 có thể thiếu động lực công bố.
Trên cơ sở kết quả mà các thành viên đã đưa ra, thị trường tiếp tục chờ đợi và hẳn là đang có những so sánh bước đầu.
Năm 2012, Ngân hàng Nhà nước thực hiện cơ chế chỉ tiêu tín dụng mới, phân thành 4 nhóm với các giới hạn khác nhau. Cơ chế này được ủng hộ, đã đáp ứng yêu cầu của các ngân hàng thương mại đặt ra sau sự cào bằng trong năm 2011.
Một mục đích chính của cơ chế là tạo điều kiện tối đa theo định hướng chung cho những nguồn lực vốn mạnh và lành mạnh, hạn chế những bất cập từ tín dụng ở những đầu mối yếu kém.
Một ước lượng tương đối ban đầu là các thành viên trong nhóm “G12” có thể được giao chỉ tiêu cao nhất (17%). Nếu có một sự hạn chế nào đó ở nhóm này đều có thể ảnh hưởng đến quy mô nguồn vốn ra thị trường, bởi 1% của một ngân hàng lớn quy mô bằng nhiều phần trăm của những ngân hàng nhỏ. Hay giả sử với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn (SCB), sau hợp nhất là một quy mô lớn, nếu có chỉ tiêu thấp thì cũng là một phần hụt đi đáng chú ý…
Bên cạnh đó, ngay cả những ngân hàng quy mô nhỏ và vừa, nếu hoạt động tốt và lành mạnh cũng hoàn toàn đủ tiêu chuẩn để được tối đa 17%. Thực tế như ở thông tin ban đầu, Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB), Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank) không có tên trong nhóm “G12” song vẫn được giao chỉ tiêu cao nhất.
Càng có nhiều thành viên được chỉ tiêu 17% càng là kết quả tích cực. Một mặt nó phản ánh một phần tình hình sức khỏe của hệ thống trên cơ sở tự đánh giá của Ngân hàng Nhà nước. Mặt khác, giới hạn tăng trưởng tín dụng của hệ thống đỡ bị co thêm sau định hướng chung đã chốt ở mức thấp, chỉ từ 15% - 17% trong năm nay.
Thế nhưng, sẽ có sự so sánh.
Giả sử, Ngân hàng Kiên Long (KienLong Bank) có thể tự nhìn mình với MHB, Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) có thể nhìn sang SeABank căn theo quy mô, hiệu quả hoạt động, tính tuân thủ các quy định pháp luật, hay cả đặc thù phục vụ khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, hay trong tín dụng nông nghiệp nông thôn… và thắc mắc sao họ chỉ ở nhóm 2 (15%)? Mọi so sánh đều khập khiễng, nhưng dư luận có quyền đặt ra như vậy.
Hay một so sánh khác. Đầu tháng 1/2012, Ngân hàng Nhà nước có thông báo cụ thể kết quả xếp hạng “Ngân hàng loại A”, dựa trên 5 tiêu chí là vốn tự có, chất lượng tài sản, năng lực quản trị điều hành, kết quả kinh doanh và khả năng thanh khoản. Vậy “loại A” này có khác gì so với việc phân nhóm để giao chỉ tiêu tín dụng hay không? Hỏi vậy bởi dự tính sẽ có trường hợp được “loại A” nhưng chưa hẳn đã có chỉ tiêu tín dụng cao nhất.
Thế rồi ngay chính một thành viên vừa nhận văn bản giao chỉ tiêu xong cũng băn khoăn rằng: “Đáng lẽ ngân hàng tôi được vào nhóm 1 vì so sánh với một số ngân hàng khác cũng chẳng thua kém. Hay là do cách đây vài năm chúng tôi có gặp một sự cố không hay nên phải vào nhóm 2?”.
Sẽ có những so sánh và băn khoăn như thế. Nhưng có lẽ là sẽ không có sự điều chỉnh nào, mà phải chờ việc xem xét lại sau 6 tháng thực hiện. Mỗi thành viên nhận chỉ tiêu xong, lên kế hoạch để định hướng kinh doanh cho phù hợp.
Tại Ngân hàng Bảo Việt (BaoViet Bank), sau khi nhận kết quả ở nhóm 2, một lãnh đạo cho biết: “Chỉ tiêu tăng trưởng 15% là tương đối phù hợp với BaoViet Bank. Năm 2012, chúng tôi xác định mục tiêu ổn định, phát triển kinh doanh có hiệu quả trên cơ sở đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro. Qua đó, tạo nền tảng cho hoạt động của ngân hàng trong những năm tiếp theo”.
Hay tại KienLong Bank, Tổng giám đốc Trương Hoàng Lương cho biết, ngân hàng sẽ tập trung nguồn vốn được phép cho vay này vào sản xuất nông nghiệp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhưng với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay chỉ 15%, áp lực với KienLong Bank là lớn, khi ngân hàng này đặt chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2012 là 710 tỷ đồng, tăng tới 36% so với năm 2011; tất nhiên, việc xây dựng chỉ tiêu là đã có tính toán.




Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định về phòng, chống rửa tiền đối với tài sản mã hóa, trong đó làm rõ khái niệm "dịch vụ tài sản mã hóa", phạm vi dịch vụ phải thực hiện nghĩa vụ báo cáo…
Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 16/2014/TT-NHNN, trong đó đề xuất bổ sung cơ chế sử dụng tài khoản đồng Việt Nam của các tổ chức nước ngoài cung ứng dịch vụ chuyển tiền quốc tế và trung gian thanh toán để thực hiện hoạt động thu hộ, chi hộ trong thanh toán xuyên biên giới…
Lần đầu tiên kể từ tháng 3/2026, giá bán USD tại nhiều ngân hàng thương mại đã rời mức kịch trần do Ngân hàng Nhà nước quy định. Khảo sát 17 ngân hàng ngày 13/7 cho thấy chỉ còn 4 ngân hàng duy trì giá bán USD ở mức 26.481 đồng/USD, trong khi 13 ngân hàng còn lại đã hạ giá bán xuống thấp hơn từ 1 - 41 đồng/USD...
Sau cú sốc năng lượng, hiệu ứng lạm phát vòng hai đang dần bộc lộ khi chi phí đầu vào lan sang điện, nhà ở và nhiều dịch vụ thiết yếu. Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng theo mùa và việc đẩy nhanh giải ngân đầu tư công có thể tiếp tục làm gia tăng sức ép lên mặt bằng giá trong nửa cuối năm 2026, khiến bài toán kiểm soát lạm phát trở nên thách thức hơn...
Trong tuần từ 06 - 10/07, lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh trên hầu hết các kỳ hạn sau khi tăng lên mức cao vào đầu tuần, phản ánh thanh khoản hệ thống được cải thiện rõ rệt…
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...