Để duy trì đà phát triển, năm 2026, Hải Phòng đặt mục tiêu tăng trưởng 9 chỉ tiêu kinh tế chủ yếu từ 1,1 - 12,6% so với năm trước, trong đó, có 4 chỉ tiêu kinh tế chủ yếu năm trước có tốc độ tăng trưởng chưa đạt được đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng là tốc độ tăng trưởng GRDP, thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) và thu hút đầu tư nước ngoài.
Năm 2025, Hải Phòng có 4/13 chỉ tiêu phát triển kinh tế chủ yếu chưa đạt mục tiêu đề ra là tốc độ tăng trưởng GRDP, thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) và thu hút đầu tư nước ngoài. Nhằm duy trì tốc độ đà phát triển, năm 2026, Hải Phòng đặt mục tiêu đưa các chỉ tiêu này tăng trưởng lớn, vượt tốc độ tăng trưởng của năm 2025.
Cụ thể, năm 2025, tốc độ tăng trưởng GRDP của Hải Phòng đạt 11,81% nên Hải Phòng đặt mục tiêu năm 2026 phải đạt mức tăng tốc độ tăng trưởng 13% so với năm trước. Thu nhập bình quân đầu người năm 2025 đạt 7.056 USD, sang năm 2026, Hải Phòng đặt mục tiêu đưa thu nhập bình quân đầu người lên đạt 7.944,5 USD (tăng 12,6% so với năm trước). Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 đạt tốc độ tăng 12,5%, Hải Phòng đặt mục tiêu năm 2026 chỉ số sản xuất công nghiệp của thành phố đạt tốc độ tăng từ 15,5 - 16% so với năm trước. Thu hút đầu tư nước ngoài năm 2025 chỉ đạt 3,8 tỷ USD (mục tiêu 5,5 tỷ USD), năm 2026, Hải Phòng đặt mục tiêu thu hút 3,8 - 4,3 tỷ USD.
Cùng với các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu, năm 2026, Hải Phòng cũng đặt mục tiêu tăng thu ngân sách nội địa lên thành 103.166 tỷ đồng (năm 2025 thu nội địa được 100.000 tỷ đồng), tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên thành 363.000 tỷ đồng (tăng 13,3% so với năm 2025). Tương tự, kim ngạch xuất khẩu tăng lên thành 52 tỷ USD (năm 2025 là 50,14 tỷ USD), tăng sản lượng hàng hoá thông qua cảng lên thành 238 triệu tấn (tăng 11,7% so với 213 triệu tấn của năm 2025), thu hút khách du lịch lên 16 triệu lượt (tăng 11,4% so với con số 14,43 triệu lượt năm 2025).
Ngoài ra, năm 2026, Hải Phòng cũng đặt mục tiêu hạ được chỉ tiêu xử lý nước thải đô thị xuống hơn 17,14%. Trước thời điểm sáp nhập với Hải Dương, tại Hải Phòng có 49,77% nước thải đô thị được xử lý đúng quy chuẩn. Sau khi sáp nhập, Hải Phòng có tỷ lệ nước thải được xử lý đạt 32,63%, giảm được khoảng 17,14% so với trước thời điểm sáp nhập. Sở dĩ tỷ lệ nước thải đô thị của Hải Phòng chưa được xử lý tăng lên là do một số vùng nông thôn thuộc Hải Dương (trước đây) được nâng cấp lên đô thị nhưng chưa có hệ thống xử lý nước thải nên tỷ lệ xử lý nước thải đô thị chung bị kéo giảm so với trước thời điểm sáp nhập.
Theo UBND TP. Hải Phòng, để đạt các mục tiêu tăng trưởng đã đề ra, cần đổi mới hơn nữa mô hình tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, phát triển các thành phần kinh tế. Hải Phòng sẽ ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp mới như chất bán dẫn, robot.
Đồng thời, Hải Phòng sẽ khôi phục một số ngành công nghiệp vốn là thế mạnh của thành phố như đóng mới, sửa chữa tàu biển, phát triển năng lượng sạch, tập trung xây dựng, khai thác có hiệu quả Khu thương mại tự do, đẩy mạnh phát triển dịch vụ logistics, thương mại và cảng biển, phát triển du lịch biển, du lịch di sản…
Đối với lĩnh vực cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển các thành phần kinh tế, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập. thành phố Hải Phòng yêu cầu lãnh đạo thành phố và các sở ngành phải dành tối thiểu 30% thời gian công tác để kiểm tra, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với những vấn đề phát sinh mới của địa phương và cơ sở.
Hải Phòng xác định sớm đầu tư các trục giao thông đường bộ, cải tạo các tuyến đường thuỷ nội địa, nâng cao năng lực vận tải tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng để tận dụng, phát huy hệ thống cảng thuỷ nội địa, tuyến đường bộ ven biển với hệ thống Cảng biển Hải Phòng, kết nối các khu vực kinh tế của thành phố với Khu kinh tế ven biển phía Nam.
Hải Phòng xác định năm 2026 sẽ khởi công 10 dự án trọng điểm sử dụng hơn 26.212 tỷ đồng vốn ngân sách. Trong đó, có các dự án hạ tầng giao thông, đô thị quan trọng như dự án chỉnh trang sông đào Hạ Lý (đoạn từ cầu Thượng Lý đến cầu Tam Bạc thuộc phường Thượng Lý với tổng vốn đầu tư hơn 584 tỷ đồng), dự án đầu tư xây dựng tuyến đường bộ cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng (đoạn qua địa phận Hải Phòng và 9 km trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và đoạn từ cao tốc Hà Nội – Hải Phòng đến nút giao ven biển tổng vốn đầu tư hơn 4.335 tỷ đồng), dự án đầu tư xây dựng cầu Văn Úc 2 thuộc dự án đường bộ cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng (tổng vốn đầu tư hơn 2.068 tỷ đồng), dự án nút giao phía Tây thành phố Hải Dương (trước đây) với đại lộ Võ Nguyên Giáp kéo dài kết nối với sân bay Gia Bình (tổng mức đầu tư 4.572 tỷ đồng).
Cùng với đó là các dự án xây dựng Trung tâm đào tạo, huấn luyện và thi đấu thể thao thuộc Khu liên hiệp văn hoá thể thao (tỉnh Hải Dương trước đây) với tổng vốn đầu tư 790 tỷ đồng, dự án cải tạo, sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện đa khoa Hải Dương (khu vực Tây Hải Phòng) với tổng mức đầu tư 959 tỷ đồng, dự án cải tạo, nâng cấp kè sông Sặt (đoạn từ cầu Cất đến cầu Cây, tổng mức đầu tư 2.995 tỷ đồng), dự án phát triển thành phố Hải Phòng thích ứng với biến đổi khí hậu (tổng mức đầu tư hơn 9.908 tỷ đồng).
Với gần 7.300 doanh nghiệp đang hoạt động, thành phố Huế đang đẩy mạnh cải cách hành chính, hỗ trợ tiếp cận nguồn lực và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Qua đó, địa phương hướng tới xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, minh bạch, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thời gian còn lại của năm 2026 không nhiều, trong khi tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công của thành phố Huế mới đạt 51,3% kế hoạch được giao. Thành phố đang tập trung rà soát từng dự án, xác định rõ trách nhiệm xử lý vướng mắc, đồng thời ưu tiên nguồn lực cho những công trình có khả năng hoàn thành và giải ngân.
Thành phố Đà Nẵng đang nỗ lực hạ quyết tâm đạt mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công vào cuối năm 2026, với tổng số vốn được Thủ tướng Chính phủ giao là hơn 17.191 tỷ đồng và Hội đồng nhân dân TP.Đà Nẵng giao là hơn 18.465 tỷ đồng. Đây là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và cải thiện hạ tầng của thành phố.
Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.
Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm 2026 đạt 9,75%, thu ngân sách đạt 25.711 tỷ đồng, Nghệ An ghi nhận những đóng góp quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp. Tỉnh đồng thời cam kết tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ khó khăn để doanh nghiệp phát triển.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.