Mặc dù có sự trầm lắng trong quý 4/2020 sau khi Nghị định 81/2020 có hiệu lực, hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp nhìn chung vẫn diễn ra rất sôi động và trở thành kênh dẫn vốn quan trọng của doanh nghiệp trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 kéo dài và lan rộng.
Tính đến hết tháng 6/2021, tổng dư nợ thị trường trái phiếu Việt Nam tương đương khoảng 22,8% GDP; trong đó, trái phiếu doanh nghiệp có quy mô khoảng 5,2% GDP (theo số liệu của Ngân hàng Phát triển châu Á – ADB).
Tuy nhiên, theo số liệu của Bộ Tài chính, quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam tăng gần gấp đôi, khoảng 44,6% GDP; trong đó, trái phiếu doanh nghiệp khoảng 13,9% (do bao gồm cả trái phiếu doanh nghiệp không niêm yết phát hành).
Theo TS. Cấn Văn Lực, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam có bước tăng trưởng đột phá kể từ năm 2016 tới nay cho dù đã manh nha hình thành kể từ năm 1997 và bắt đầu phát triển từ năm 2005-2006.
Tính tới cuối năm 2017, quy mô thị trường tài chính Việt Nam đạt khoảng 314% GDP và tăng lên mức 348% GDP vào cuối tháng 6/2021; trong đó, vốn hóa thị trường trái phiếu cũng có nhiều cải thiện. Dẫu vậy, quy mô thị trường trái phiếu của Việt Nam (bao gồm cả trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu Chính phủ) vẫn còn nhỏ bé so với các nước trong khu vực. Điều này cho thấy thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam còn nhiều dư địa để mở rộng trong tương lai.
Cụ thể, vị chuyên gia dẫn chứng, nếu năm 2016, thị trường trái phiếu doanh nghiệp tăng 203% thì đến năm 2017 quay đầu giảm tới -11%, sau đó bật tăng tới 227% vào năm 2018. Và kể từ đó tới nay, mức tăng trưởng của thị trường giảm dần xuống 103% năm 2019, 36% năm 2020 và đạt mức 18,3% tính tới tháng 6/2021.
Đáng chú ý, theo TS. Cấn Văn Lực, cơ cấu nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp hiện có rất nhiều vấn đề. Tỷ trọng “gom” trái phiếu doanh nghiệp của các tổ chức tín dụng giảm từ 35% năm 2018 xuống 17,4% năm 2019 và lên 25% trong nửa đầu năm 2021 (không có số liệu năm 2020). Trong khi đó, tỷ trọng mua của các công ty chứng khoán luôn duy trì ở mức cao 39,4% năm 2018, 44,1% năm 2019 và 44,4% nửa đầu năm 2021.
Ngoài ra, về lãi suất, lãi suất bình quân tăng năm 2020 nhưng giảm mạnh trong 6 tháng đầu năm 2021 (còn khoảng 7,9%/năm) và kỳ hạn phát hành trái phiếu doanh nghiệp cũng ngày càng dài hơn. Đây là tín hiệu tích cực.
Tuy vậy, theo TS. Cấn Văn Lực, số liệu thống kê cho thấy, rủi ro với trái phiếu doanh nghiệp đang tăng lên. Loại trừ các trái phiếu ngân hàng và định chế tài chính khác hầu hết là không có tài sản đảm bảo, các trái phiếu doanh nghiệp còn lại được phát hành trong 6 tháng đầu năm 2021 có tới 28% trái phiếu doanh nghiệp là không có tài sản đảm bảo.
Dù có nhiều điểm sáng tối đan xen trong bức tranh trái phiếu doanh nghiệp, song theo vị Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, tiềm năng phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp là rất lớn.
Nhằm triển khai Luật Chứng khoán và Luật Doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành 03 Nghị định quy định về chào bán và giao dịch trái phiếu riêng lẻ, chào bán trái phiếu phát hành ra công chúng và Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán để tạo ra khung pháp lý thống nhất về trái phiếu doanh nghiệp. Bộ cũng đã ban hành Thông tư số 122/2020 hướng dẫn chế độ công bố thông tin, báo cáo đối với trái phiếu doanh nghiệp… Đây được xem là khung khổ pháp lý quan trọng nhằm thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong tương lai theo hướng hiệu quả và chất lượng hơn.
Hơn nữa, nếu so sánh với thị trường các nước như Hàn Quốc, Thái Lan hay Trung Quốc, thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam vẫn còn khá sơ khai. “Chẳng hạn, năm 1999, Hàn Quốc đã thành lập 3 tổ chức định hạng trái phiếu có chức năng định hạng trái phiếu và cung cấp dịch vụ thông tin về giá trái phiếu, làm thị trường trái phiếu doanh nghiệp minh bạch hơn và thị trường thứ cấp hiệu quả hơn”, ông Lực dẫn chứng. Trong khi đó, Trung Quốc định giá trái phiếu doanh nghiệp dựa trên trái phiếu Chính phủ cùng với việc thành lập các tổ chức định hạng tín nhiệm và tạo thêm nhiều sản phẩm cho thị trường trái phiếu như trái phiếu doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp đồng mua lại, hợp đồng kỳ hạn, trái phiếu xanh…
Dù nguồn cung thị trường lớn và nhu cầu của nhà đầu tư trong thời gian tới được dự báo tăng song theo TS.Cấn Văn Lực, vấn đề của Việt Nam hiện nay là phải tìm cách nâng thị trường lên một tầm cao mới. Điều này có nghĩa rằng thị trường trái phiếu doanh nghiệp sẽ minh bạch, bền vững và thị trường hơn với đa dạng loại hình trái phiếu cũng như ít rủi ro hơn đối với nhà đầu tư ngay cả đối với nhà đầu tư không chuyên.
Thứ nhất, Chính phủ sớm sửa đổi một số Nghị định đã không còn phù hợp cho sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam, chẳng hạn như Nghị định 38.
Thứ hai, xem xét thành lập một số định chế tài chính mới, ví dụ như Quỹ đầu tư cơ sở hạ tầng hoặc Quỹ đầu tư tín chấp bất động sản tham gia vào thị trường thông qua việc phát hành trái phiếu tổng hợp để hướng tới nhiều nhà đầu tư hơn.
Thứ ba, tăng thêm vai trò của các định chế tài chính và các tổ chức xếp hạng tín nhiệm. Bởi đây là vai trò trung gian vô cùng quan trọng, là mắt xích không thể thiếu trong chuỗi giá trị của thị trường trái phiếu doanh nghiệp.
Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường lành mạnh hơn; bao gồm xem xét sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng về mức độ tham gia thị trường của các ngân hàng cũng như quy định cụ thể hơn với tổ chức xếp hạng tín nhiệm trái phiếu doanh nghiệp.
Thứ năm, đưa ra giải pháp đồng bộ để thúc đẩy thị trường lành mạnh, bao gồm cơ sở dữ liệu, văn hóa minh bạch thông tin, chuẩn mực kế toán, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số cho phù hợp với tài chính số, ngân hàng số.
Thứ sáu, chuẩn hóa đội ngũ nhà đầu tư, trong đó vai trò của giáo dục tài chính rất quan trọng. Các nhà đầu tư cần phải chuyên nghiệp hơn.
Thứ bẩy, nâng cao năng lực của cơ quan quản lý, vừa là chất lượng thể chế, vừa là chất lượng thực thi. Đặc biệt, trong bối cảnh nhiều sản phẩm và công nghệ mới đã và đang được sinh ra, cơ quan quản lý cần bắt kịp.
Thứ tám, đa dạng hóa sản phẩm nhất là trái phiếu tổng hợp. Đặc biệt cần phân nhóm trái phiếu, phân nhóm doanh nghiệp được xếp hạng. Ngoài ra cần cho phép chứng khoán hóa trái phiếu, chứng khoán hóa tài sản để thúc đẩy thị trường phát triển ở nhiều phân khúc.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu toàn hệ thống chính trị tập trung cao độ, quyết liệt triển khai các giải pháp chống khai thác IUU, thực hiện nghiêm “5 không”, quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC) trong năm 2026, gắn với phát triển ngành thủy sản bền vững...
Chiều 13/10, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đã tổ chức Hội nghị sơ kết và ký kết Quy chế phối hợp công tác với các tỉnh Gia Lai, Khánh Hòa, Đắk Lắk. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường phối hợp, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực công tại ba tỉnh miền Trung Tây Nguyên.
Ngày 13/10 tại Hà Nội, Thủ tướng Lê Minh Hưng tiếp Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Lào và Campuchia, nhấn mạnh vai trò trụ cột của hợp tác quốc phòng - an ninh trong quan hệ song phương, đồng thời đề nghị thúc đẩy hợp tác thực chất, kết nối hạ tầng biên giới, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển công nghiệp quốc phòng.
Chiều 13/10, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã kiểm tra thực địa hai dự án hạ tầng trọng điểm của TP.HCM, gồm dự án Giải quyết ngập do triều khu vực TP.HCM có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu – giai đoạn 1 và dự án xây dựng hạ tầng, cải tạo môi trường Kênh Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu phát triển nhà ở phải căn cứ nhu cầu thực tế, khả năng chi trả của người dân và điều kiện từng địa phương; khắc phục mất cân đối cung-cầu; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tăng nguồn cung nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, đồng thời hoàn thiện chính sách để hạn chế đầu cơ, tránh lãng phí nguồn lực...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.