
Những diễn biến gần đây liên quan đến bồi thường đất, giải phóng mặt bằng và định giá đất có vẻ như đang khiến các nhà đầu tư lo lắng hơn trước, theo ghi nhận của VnEconomy tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam.
Một loạt các văn bản pháp luật liên quan đến bồi thường đất, giải phóng mặt bằng và định giá đất đã được ban hành với mục đích cung cấp một khung pháp lý khả thi, tạo điều kiện để lĩnh vực bất động sản có thể phát triển một cách trật tự.
Ông David Lim, đại diện Nhóm công tác đất đai thuộc Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam nói trong phần lớn các văn bản trên, “các chủ trương đều đúng đắn và thể hiện ý định của các nhà làm luật muốn giải quyết các vấn đề cực kỳ khó khăn”.
Tuy nhiên, việc áp dụng không thống nhất cơ chế tính toán giá đất cũng như các thủ tục bồi thường và giải phóng mặt bằng khác nhau đã dẫn đến những sự chậm trễ không đáng và gây khó khăn cho những chủ đầu tư bất động sản.
Nhóm công tác đã tiến hành các khảo sát từ các nhà đầu tư và nhận thấy có khá nhiều điểm bất cập liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài.
Chẳng hạn, theo Điều 28 của Nghị định 84, trong trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư và khu đất phải được chuyển mục đích sử dụng cho phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì sau khi nhận chuyển nhượng, số tiền mà nhà đầu tư đã trả cho việc chuyển nhượng sẽ được trừ vào tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất hoặc sẽ được xem là khoản tiền thuê đất nhà đầu tư trả trước cho Nhà nước.
Theo quy định này, số tiền nhà đầu tư thực tế trả cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ được tính vào chi phí đầu tư dự án của nhà đầu tư.
Tuy nhiên, theo Điều 2.2 của Thông Tư 93/2011/TT-BTC đề ngày 29/6/2011 của Bộ Tài chính, nhà đầu tư không được phép trừ mà phải trả tiền sử dụng đất căn cứ trên chênh lệch giữa các giá đất theo các mục đích sử dụng mới và cũ vào thời điểm thay đổi.
Đối với vấn đề này, Nhóm công tác đề nghị rằng tiền sử dụng đất có thể được trừ vào các khoản tạm ứng cho việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư… Nếu các khoản tiền tạm ứng đã thanh toán cao hơn tiền sử dụng đất phải trả thì chỉ trừ số tiền bằng với tiền sử dụng đất; phần còn lại sẽ là chi phí đầu tư dự án.
Cũng về vấn đề bồi thường giải phóng mặt bằng, nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án trên cơ sở sở hữu 100% vốn gặp bất lợi so với một nhà đầu tư trong nước sau khi hoàn tất giải phóng mặt bằng hoặc thương lượng với người sử dụng đất để giải phóng mặt bằng bởi vì họ không thể trả tiền bồi thường cho người sử dụng đất đó ngay lập tức. Họ phải trải qua hai bước nữa mới có được đất do phải thương lượng hợp đồng thuê đất với Nhà nước và phải xin giấy chứng nhận đầu tư.
Do phải mất từ 6 tháng đến một năm mới có được giấy chứng nhận đầu tư, người sử dụng đất khó có thể chờ đến khi đó để nhận dược tiền đền bù về đất.
Một trở ngại khác là trong tình hình kinh tế hiện nay đang thiếu tín dụng, nhà đầu tư Việt Nam mời các nhà đầu tư nước ngoài cùng đầu tư không chỉ vào các dự án mới mà còn cả vào các dự án hiện hữu.
Vẫn theo ông David Lim, các nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng hỗ trợ theo cách này nhưng khó cam kết vốn cho bất kỳ dự án nào khi không có sự chắc chắn hoặc bảo đảm nào về quyền sử dụng đất. Điều này tiếp tục là cản trở cho việc các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các dự án từ các dự án đô thị lớn cho đến các dự án phát triển một tòa nhà duy nhất.
Nhóm công tác đề nghị rằng các nhà đầu tư nước ngoài không cần phải qua bước thương lượng hợp đồng thuê đất với Nhà nước giống như các chủ đầu tư trong nước và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài sau khi hoàn tất việc bồi thường để các nhà đầu tư nước ngoài có các quyền như quyền của nhà đầu tư trong nước trong việc thực hiện các dự án bất động sản.
Khó khăn về mặt bằng không chỉ đến với các doanh nghiệp bất động sản mà còn là của các doanh nghiệp khác có dự án đầu tư chiếm diện tích lớn, chẳng hạn trong lĩnh vực nhiệt điện.
Theo ông Tony Foster, một chuyên gia giàu kinh nghiệm về cơ sở hạ tầng tại Việt Nam thì theo quy chế về dự án BOT, các doanh nghiệp không phải trả tiền thuê đất. Tuy vậy, dự án BOT vẫn phải chịu chi phí giải phóng mặt bằng, bồi thường và cải tạo mặt bằng thường khá lớn.
Mới đây, chủ đầu tư dự án nhiệt điện Mông Dương 2 đã được cấp “đất sạch” đã giải phóng mặt bằng tuy nhiên trên thực tế không có nhiều dự án được “may mắn” như thế. Những dự án điện khác phải tự chịu chi phí giải phóng mặt bằng, bồi thường, cải tạo mặt bằng. Tùy vào quy mô của nhà máy và địa điểm, những chi phí này có thể lên tới trên 50 triệu USD.
“Tôi nghĩ Chính phủ cần thể hiện rõ sự cam kết hơn bằng cách chuẩn bị trước các thủ tục giao đất và phân bổ ngân sách phù hợp. Nếu không, rủi ro sẽ chuyển lên vai doanh nghiệp, dẫn đến việc chuyển tiếp chi phí và chi phí cuối cùng chắc chắn sẽ cao hơn so với việc chính phủ có can thiệp từ đầu”, ông Tony Foster nói.
Một vấn đề khác là UBND địa phương nơi có đất
thường tuyên bố rằng mình không có kinh phí để ứng trước cho những chi phí trên
. Vì vậy, nhà đầu tư sẽ phải lựa chọn giữa việc tự ứng trước chi phí, qua đó gánh luôn rủi ro do không biết dự án có được cấp phép suôn sẻ và mình có được phê duyệt kinh phí hay không, hoặc chờ cho đến khi được phê duyệt kinh phí mới bắt đầu đền bù và cải tạo mặt bằng.
"Công tác đền bù, cải tạo mặt bằng, tùy địa điểm, có thể kéo dài đến hai năm hoặc hơn, dẫn tới hậu quả là dự án bị chậm tiến độ", ông Tony Foster nhấn mạnh.
TP.Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình qua Trung tâm Tài chính Quốc tế, hướng tới hình thành chương trình huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm...
Sau kế hoạch chuyển toàn bộ cổ phiếu niêm yết về Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE), cơ quan quản lý tiếp tục tính toán phương án tổ chức lại cách vận hành thị trường với nhiều thay đổi như giao dịch xuyên trưa, nới biên độ dao động giá và rút ngắn thời gian thanh toán…
Quy mô thị trường trái phiếu xanh Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với quy mô tín dụng xanh, trong khi nhiều dự án chuyển đổi xanh cần nguồn vốn trung và dài hạn. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore và Nhật Bản cho thấy Nhà nước có thể hỗ trợ những chi phí đang cản trở doanh nghiệp bước vào thị trường vốn xanh.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, có yêu cầu về nguồn lực cho tăng trưởng sẽ lớn hơn, dài hạn hơn và đa dạng hơn đáng kể so với trước. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 được đặt ở mức từ 10%/năm trở lên, cùng với yêu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là nền kinh tế cần thêm bao nhiêu vốn, mà là nguồn lực đó sẽ được huy động từ đâu, dẫn truyền qua kênh nào và phân bổ như thế nào để tạo ra hiệu quả tăng trưởng cao nhất?
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, việc Việt Nam nghiên cứu khả năng phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của thị trường. Nếu phương án này được thông qua và triển khai, đợt phát hành mới không chỉ mở lại một kênh huy động vốn mà còn là cơ hội để Việt Nam tái thiết lập đường cong lợi suất chuẩn, mở rộng cơ sở nhà đầu tư quốc tế và tạo điểm tham chiếu cho các đợt phát hành trái phiếu tiếp theo trên thị trường quốc tế.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.