Ô nhiễm không khí hiện nay tập trung chủ yếu tại Hà Nội và các tỉnh lân cận, đặc biệt nghiêm trọng vào mùa khô với nồng độ bụi mịn PM2.5 thường xuyên vượt ngưỡng.
Liên tiếp những ngày trung tuần tháng 12/2025, tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội liên tục ở ngưỡng xấu. Sáng 8/1/2026, Hà Nội tiếp tục ghi nhận tình trạng ô nhiễm không khí nghiêm trọng khi nhiều trạm quan trắc cho thấy chỉ số chất lượng không khí (AQI) ở ngưỡng xấu.
Theo Trung tâm quan trắc môi trường miền Bắc, trạm đo tại 556 Nguyễn Văn Cừ ghi nhận AQI ở mức 157 - thuộc ngưỡng xấu. Trạm Đại học Bách Khoa, cổng Parabol đường Giải Phóng có chỉ số AQI lên tới 181, trong khi trạm Công viên Nhân Chính - Khuất Duy Tiến cũng ở mức 159, đều nằm trong nhóm cảnh báo đỏ.
SỐ HÓA NGUỒN THẢI, XÂY DỰNG BẢN ĐỒ SỐ NGUỒN THẢI THEO TỪNG VÙNG
Tại hội thảo về kiểm soát ô nhiễm không khí Hà Nội: Thách thức và Hành động vừa diễn ra, ông Trương Mạnh Tuấn, Phó trưởng Phòng Quản lý chất lượng môi trường, Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh rằng vấn đề ô nhiễm không khí đang ở xu thế gia tăng cần giải pháp kìm hãm, đảo ngược xu thế này.
Trước thực trạng này, kế hoạch quốc gia đặt ra các mục tiêu đầy tham vọng nhằm "đảo ngược" xu thế ô nhiễm. Cụ thể, đến năm 2030, Hà Nội phấn đấu giảm 20% nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm so với mức đo đạc của năm 2024, đưa chỉ số này xuống dưới 40µg/m3. Các tỉnh vệ tinh như Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Ninh... cũng đặt mục tiêu giảm trên 10% chỉ số này.
Theo ông Tuấn, một điểm mới trong tư duy quản lý là chuyển từ thanh tra thủ công sang ứng dụng công nghệ giám sát tự động. Giải pháp này cho phép theo dõi lưu lượng phát thải lớn và liên tục hơn, nâng cao hiệu quả kiểm tra và thực thi pháp luật.
“Chúng ta sẽ hướng tới công nghệ dữ liệu, đo đạc chính xác. Khi có dữ liệu phản ánh đúng thực tế mới có những giải pháp “đánh trúng, đánh đúng” vào các điểm nóng gây ô nhiễm lớn hiện nay”, ông Tuấn nói.
Một điểm mới trong tư duy quản lý là chuyển từ thanh tra thủ công sang ứng dụng công nghệ giám sát tự động. Giải pháp này cho phép theo dõi lưu lượng phát thải lớn và liên tục hơn, nâng cao hiệu quả kiểm tra và thực thi pháp luật.
Việc ứng dụng khoa học công nghệ, bao gồm cả trí tuệ nhân tạo có thể phát huy hiệu quả khi đi kèm sự đồng thuận của xã hội. Một điển hình là việc công khai chỉ số chất lượng không khí. Khi các chỉ số này được cập nhật thường xuyên, người dân buộc phải đối diện với thực tế rằng chất lượng không khí ngoài trời có thể cao gấp nhiều lần so với môi trường trong nhà, và từ đó hình thành trách nhiệm cá nhân trong lựa chọn hành vi.
Theo ông Vũ Thái Trường, Trưởng Ban Biến đổi khí hậu, Năng lượng và Môi trường UNDP, Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc, quản lý môi trường trong giai đoạn tới cần chuyển mạnh sang mô hình dựa trên bằng chứng. Việc mở rộng mạng lưới quan trắc có thể được thực hiện thông qua các giải pháp công nghệ tiết kiệm chi phí, như cảm biến chi phí thấp.
Cùng với đó là yêu cầu xây dựng bản đồ số về nguồn thải theo từng vùng, được cập nhật định kỳ. Hệ thống dữ liệu đồng bộ này không chỉ phục vụ công tác điều hành và quản lý môi trường, mà còn hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động thanh tra, kiểm tra.
Chia sẻ vấn đề này, các chuyên gia cho rằng đối với tất cả các quốc gia, chính sách môi trường bắt buộc phải dựa trên bằng chứng và số liệu thực tiễn, không thể dựa vào những nhận định chung chung.
Nếu không có số liệu cụ thể, chúng ta không thể quy trách nhiệm rõ ràng về nguồn ô nhiễm đến từ nhà máy xi măng, nhiệt điện hay làng nghề… Do đó, chuyên gia nhấn mạnh việc chuyển đổi tư duy từ quản lý hành chính sang quản lý rủi ro dựa trên dữ liệu.
Giải pháp đột phá duy nhất hiện nay là số hóa tất cả các nguồn thải lên một bản đồ số. Đây phải là một “bản đồ sống”, được cập nhật liên tục. Trên đó phải hiển thị rõ: Cơ sở sản xuất thuộc phường/xã nào, ngành nghề gì, đang sản xuất cái gì và phát thải bao nhiêu? Khi kết hợp dữ liệu này với hệ thống quan trắc trực tuyến, các nhà quản lý và khoa học có thể tính toán được mức độ đóng góp ô nhiễm của từng nguồn.
Về phương thức thực hiện, trách nhiệm của cơ sở sản xuất phải báo cáo định kỳ trên các ứng dụng (App) tự động. Khi có được nguồn dữ liệu lớn (Big Data) và đồng bộ mới có thể ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để xây dựng các kịch bản, xác định rõ ô nhiễm là nội tại hay do phát tán từ các tỉnh lân cận theo hướng gió…
Theo chuyên gia, khi có hệ thống số liệu minh bạch được chia sẻ từ trung ương xuống địa phương, trách nhiệm sẽ được phân định rất rõ ràng.
GIÁM SÁT, CẢNH BÁO SỚM VÀ HỖ TRỢ PHẢN ỨNG NHANH VỚI CÁC NGUỒN PHÁT THẢI
Trước tình trạng ô nhiễm không khí gia tăng, nhất là vào những tháng cuối năm, các chuyên gia của Cục Viễn thám quốc gia đã triển khai loạt giải pháp công nghệ nhằm giám sát, cảnh báo sớm và hỗ trợ phản ứng nhanh với các nguồn phát thải trên địa bàn Hà Nội.
Ông Vũ Hữu Liêm, Giám đốc Trung tâm Giám sát Nông nghiệp, Tài nguyên và Môi trường, Cục Viễn thám quốc gia cho biết hai nhóm công nghệ chủ lực đang được vận hành song song.
Thứ nhất là ứng dụng ảnh vệ tinh độ phân giải cao và siêu cao, cho phép bao quát toàn bộ thành phố, theo dõi các khu vực xây dựng, làng nghề và phát hiện những dấu hiệu phát thải như ống khói hay điểm đốt mở. Đáng chú ý, công nghệ viễn thám hiện nay đã đạt độ chính xác đủ đáp ứng yêu cầu quản lý cấp địa phương, với khả năng phân tích các ô lưới mặt đất khoảng 3 km.
Song song với đó, thiết bị bay không người lái (Drone) Matrice 300 RTK được sử dụng để giám sát chi tiết và xử lý các tình huống phát sinh theo thời gian thực. Drone giúp ghi nhận hình ảnh cận cảnh tại các “điểm nóng” như đốt rác, đốt rơm rạ hay phát thải cục bộ, cung cấp dữ liệu trực tiếp phục vụ công tác kiểm tra, xử lý.
Qua triển khai, các đơn vị chức năng đã xác định 68 công trường xây dựng cùng 14 làng nghề tái chế nhựa, sắt thép cần theo dõi trọng điểm. Nhiều công trình xây dựng là nguồn phát sinh bụi nếu không che chắn, kiểm soát đúng quy định.
Ông Liêm nhấn mạnh mục tiêu lâu dài của chương trình là xây dựng hệ thống cảnh báo sớm ô nhiễm không khí. Vì thế cần tích hợp dữ liệu vệ tinh, drone với hệ thống camera giao thông hiện có để hình thành bản đồ ô nhiễm thời gian thực, giúp cơ quan quản lý chuyển từ phản ứng bị động sang chủ động phòng ngừa, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường không khí Thủ đô.
Sử dụng hệ thống pin tích hợp trong cánh, máy bay E9X của công ty khởi nghiệp Hà Lan Elysian Aircraft được thiết kế để chở 90 hành khách, với tầm bay ban đầu 800 km và mục tiêu đạt 1.000 km. Dự kiến đi vào khai thác năm 2034, mẫu máy bay này được kỳ vọng góp phần giảm đáng kể lượng phát thải của ngành hàng không…
Góp ý kiến vào dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật; đồng thời làm rõ một số nội dung để luật vừa tạo động lực phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ môi trường, chủ quyền và lợi ích quốc gia, hướng mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh...
Theo lộ trình, Việt Nam thực hiện mục tiêu cắt giảm 67,5% lượng tiêu thụ cơ sở HCFC trong giai đoạn 2025-2029, tiến tới giảm 97,5% từ năm 2030 và loại trừ hoàn toàn vào năm 2040. Từ thực tế lượng thiết bị đang sử dụng HCFC-22 hiện nay với nhu cầu môi chất lạnh cho sửa chữa, bảo dưỡng vẫn còn lớn trong khi nguồn mới bị hạn chế đặt ra bài toán thu hồi, tái chế, tái sử dụng, quản lý môi chất theo vòng đời. Tính toán cho thấy Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 1.000 tấn HCFC-22 vào năm 2030…
Nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ việc cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm; nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm; phân cấp nhưng không phân tán; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Nếu giảm tiền kiểm nhưng năng lực hậu kiểm không đáp ứng yêu cầu thì sẽ khó bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường...
Việt Nam đang hoàn thiện khung pháp lý và đẩy mạnh các giải pháp quản lý môi chất lạnh theo Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, hướng tới thu hồi, tái chế xuyên suốt vòng đời thiết bị, góp phần bảo vệ tầng ozone và giảm phát thải khí nhà kính...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.