
Đồng thời, đẩy mạnh thu hút nguồn lực xã hội hóa, hợp tác công tư, ứng dụng khoa học công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu bảo tồn và phát triển bền vững, toàn diện và hội nhập quốc tế…
Mới đây, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tổ chức Hội nghị phản biện xã hội đối với dự án Luật Di sản văn hóa (sửa đổi). Hội nghị tập trung thảo luận vào nội dung phạm vi, đối tượng điều chỉnh và bố cục của dự thảo, tính phù hợp với cam kết trong các điều ước quốc tế, các quy định liên quan đến quyền con người.
Đồng thời góp ý kiến đối với quy định về các loại hình di sản văn hóa phi vật thể; các quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong quản lý hoạt động kinh doanh, dịch vụ di sản văn hóa trong dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi). Đặc biệt là vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận trong dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi)…
Góp ý nội dung của dự thảo luật, GS.TS Trần Ngọc Đường cho rằng coi trọng quy định về các hoạt động quản lý, bảo vệ di sản văn hóa của các chủ thể sở hữu di sản văn hóa, nhất là của chủ sở hữu di sản văn hóa là Nhà nước. Trong khi đó, nội dung phát huy giá trị di sản văn hóa không được quy định rõ. Các điều luật đều có hai chữ “phát huy” nhưng nội dung của phát huy là phải làm gì? Phát huy như thế nào không thấy quy định. Khuôn khổ pháp lý để phát huy giá trị di sản văn hóa không thấy quy định đầy đủ, rõ ràng trong dự án luật.
Theo GS.TS. Trần Ngọc Đường, ngày nay việc kết hợp giữa di sản văn hóa và công nghệ đang thúc đẩy sự hình thành các khái niệm mới về di sản số, di sản phái sinh,…thế nhưng chưa được luật hóa để hình thành chính sách pháp lý phù hợp, khuyến khích phát triển các sản phẩm số dựa trên di sản. Nếu nghiên cứu đưa di sản số trở thành một khái niệm chính thức trong Luật Di sản văn hóa và có các quy định về chính sách đầu tư, chính sách về bản quyền,… sẽ thúc đẩy người làm công nghệ có sản phẩm số mang tính ứng dụng cao để di sản văn hóa thật sự phát huy giá trị trong đời sống
PGS.TSKH. Trịnh Thị Kim Ngọc, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, cũng cho rằng cần phải hình thành một “Bảo tàng số mở”, vì các loại di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam liên tục được phát hiện, tổng hợp, công nhận và bổ sung. Nhưng thực tế, công tác này còn chưa được quan tâm đúng mức, nhất là các loại hình di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa phi vật thể như: các tri thức dân gian, các lễ hội cùng diễn xướng, hò ca, hay các nhạc cụ dân tộc... của đồng bào 53 dân tộc thiểu số.
TS. Nguyễn Xuân Năng, nguyên Giám đốc Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam, kiến nghị nên phân định cấp độ khác nhau giữa di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia để có ứng xử phù hợp. Đi sâu phân tích, TS. Nguyễn Xuân Năng cho rằng hiện mới có 300 hiện vật là bảo vật quốc gia. Vì vậy phải coi bảo vật quốc gia là tài sản đặc thù, có giá trị đặc biệt và thuộc loại hiện vật quý hiếm. Với bảo vật quốc gia, không cho phép kinh doanh cả trong và ngoài nước. Với cổ vật, không cho phép kinh doanh ở nước ngoài.
Ông Năng cũng đề xuất đối với di vật không phải là những hiện vật thuộc dạng quý hiếm hay có giá trị tiêu biểu hay đặc biệt tiêu biểu như cổ vật và bảo vật quốc gia thì có thể cho phép mua bán cả trong và ngoài nước. Có như vậy các bảo tàng mới có cơ hội sưu tầm được nhiều hiện vật phục vụ trưng bày giới thiệu cho công chúng.
Góp ý về quy định cấm kinh doanh bảo vật quốc gia với hai phương án đưa ra, TS. Nguyễn Văn Hùng, Ủy viên Hội đồng thành viên Văn hóa - xã hội Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhất trí theo phương án 1. Phương án này có các ưu điểm như hạn chế quyền kinh doanh bảo vật quốc gia được quy định trong luật (Luật Di sản văn hóa), bảo đảm thống nhất với quy định “Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản” và quy định “Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do luật quy định” tại khoản 1 Điều 163, khoản 1 Điều 196 Bộ Luật Dân sự.
Bên cạnh đó, bảo vật quốc gia là hiện vật hàm chứa những giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật lớn đối với quốc gia. Cấm kinh doanh những bảo vật quốc gia giúp ngăn chặn nguy mất mát, hủy hoại hoặc mua bán trái phép bảo vật quốc gia.
Đồng thời, ngăn chặn được nguy cơ lợi dụng danh hiệu bảo vật quốc gia để trục lợi; góp phần bảo tồn được giá trị văn hóa của bảo vật quốc gia, không bị tác động bởi giá trị kinh tế, giúp đảm bảo di sản văn hóa này được gìn giữ, trao truyền cho thế hệ hiện tại và tương lai, góp phần vào việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và lịch sử quốc gia...
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 12-2024 phát hành ngày 18/03/2024. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh năm học 2026-2027 phải tạo chuyển biến thực chất, lấy kết quả làm thước đo, đồng thời xác định mục tiêu xây dựng nền giáo dục công bằng, chất lượng và trung thực...
Bão đang tiến gần Biển Đông, trong khi Bắc Bộ tiếp tục đối mặt với một đợt mưa lớn kéo dài, làm gia tăng nguy cơ lũ quét, sạt lở đất và ngập úng tại nhiều địa phương. Các cơ quan chức năng đã phát đi cảnh báo, đồng thời triển khai các biện pháp ứng phó nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai...
Dự án được Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ không hoàn lại thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức, với tổng vốn 15 triệu Euro. Thời gian triển khai đến 30/12/2030...
Nhu cầu tuyển dụng lao động quý 2/2026 có sự dịch chuyển động lực giữa hai trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, khi Hà Nội đã vươn lên dẫn đầu cả về quy mô lẫn tốc độ tăng trưởng tuyển dụng, phản ánh xu hướng mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp tại khu vực phía Bắc…
Qua tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy có 47 nội dung không rõ ràng, gây khó khăn, vướng mắc, tạo “điểm nghẽn” trong áp dụng, thực hiện pháp luật, cản trở quá trình phát triển...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.