Thống kê của SBTi: đến tháng 6/2026, Việt Nam có 41 doanh nghiệp đã tham gia thực hiện cam kết và xác lập mục tiêu theo sáng kiến khoa học toàn cầu SBTi, trong đó có 33 doanh nghiệp lớn và 8 doanh nghiệp SME.
SBTi ra đời như một công cụ giúp doanh nghiệp xây dựng mục tiêu giảm phát thải phù hợp khoa học khí hậu và được ghi nhận thông qua quy trình thẩm định.
SBTi là một tiêu chuẩn cao nhất hiện nay để xác lập mục tiêu giảm phát thải cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có doanh thu từ 50 triệu USD trở lên. SBTi hiện cũng là tiêu chuẩn được tham chiếu rộng rãi nhất cho mục tiêu giảm phát thải dựa trên khoa học với 13.574 doanh nghiệp đã cam kết/đặt mục tiêu, trong đó 11.156 đã được xác thực và 2.607 đã được xác thực Net Zero (số liệu SBTi, 6/2026).
Năm 2026, SBTi có nhiều cập nhật quan trọng về Net Zero, phạm vi 3, chuỗi cung ứng và các yêu cầu về tính minh bạch. Do đó, doanh nghiệp hiểu sớm sẽ chủ động hơn về dữ liệu, nguồn lực và lộ trình.
Chia sẻ về hiện trạng cụ thể của các doanh nghiệp cam kết cũng như xác lập mục tiêu SBTi, bà Nguyễn Thị Hà, Công ty Cổ phần sáng tạo Xanh Việt Nam Green IN, thông tin "lũy kế đến cuối năm 2025 có khoảng 12.353 doanh nghiệp đã được xác nhận mục tiêu dựa trên cơ sở khoa học hoặc đã có cam kết sẽ xác lập mục tiêu".
So với năm 2024 số lượng doanh nghiệp có mục tiêu đã tăng lên 40% và số doanh nghiệp đồng thời có mục tiêu ngắn hạn và dài hạn (mục tiêu NetZero) lũy kế tăng 61%.
Đáng chú ý, báo cáo ghi nhận tham vọng mục tiêu dài hạn (mục tiêu NetZero) mạnh mẽ hơn và ngày càng trở thành lựa chọn ưu tiên của doanh nghiệp. Theo thống kê của SBTi, năm 2025, tổng số doanh nghiệp có mục tiêu được xác nhận tăng 46% (từ 2.936 lên 4.299), trong đó, doanh nghiệp có xác nhận mục tiêu Net Zero tăng rất cao, ở mức 76% (từ 980 lên 1.729).
Trong năm 2024, có 33% doanh nghiệp được xác nhận mục tiêu nhưng đến cuối năm 2025, tỷ lệ này đã tăng lên 40%. Như vậy, tỷ lệ doanh nghiệp được xác nhận mục tiêu, được thẩm định bởi SBTi và các doanh nghiệp đặt mục tiêu Net Zero đã tăng rất cao.
Thông qua những con số tăng trưởng cho thấy, NetZero đã trở thành vấn đề được quan tâm trong các doanh nghiệp, đặc biệt ở các chuỗi cung ứng, tập đoàn có cam kết phát thải ròng bằng không cũng như chuyển đổi xanh.
Bà Hà cũng nhấn mạnh rằng, sự thay đổi chuyển động này sẽ tác động tới các doanh nghiệp Việt Nam. Bởi phần lớn các tập đoàn, doanh nghiệp lớn từ các quốc gia, thuộc châu Âu hoặc châu Mỹ đã triển khai thực hiện cam kết SBTi; trong khi nhiều nước ở khu vực châu Á trong đó có Việt Nam lại nằm trong chuỗi cung ứng.
Hiện nay, ở khu vực châu Á có nhiều doanh nghiệp quan tâm mục tiêu đã tăng trưởng mạnh, trong đó rõ nhất trong các tập đoàn, doanh nghiệp lớn của quốc gia như là Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ.
Tại các quốc gia Đông Nam Á, mặc dù mới ở mức thâm nhập, tỷ lệ chưa cao nhưng cũng ghi nhận mức tăng trưởng hàng năm. Ví dụ như Việt Nam từ 12% năm 2024 tăng lên 16% vào năm 2025. Tỷ lệ này cho thấy, mặc dù Việt Nam nằm trong chuỗi cung ứng nhưng việc xác lập mục tiêu khoa học và hướng tới phát thải ròng bằng 0 đang trở thành một yêu cầu đòi hỏi.
Các chuyên gia cho rằng dù sự thay đổi theo yêu cầu hay tiên phong, tự nguyện chuyển đổi mô hình kinh doanh hoặc chuyển đổi chiến lược để phát triển bền vững đều đã phản ảnh rõ sự thay đổi về tư duy nhận thức của các doanh nghiệp để thích ứng bền vững hơn trong chuyển đổi xanh.
Thống kê của SBTi: đến tháng 6/2026, Việt Nam có 41 doanh nghiệp đã tham gia thực hiện cam kết và xác lập mục tiêu theo sáng kiến khoa học toàn cầu SBTi, trong đó có 33 doanh nghiệp lớn và 8 doanh nghiệp SME.
Con số này mặc dù còn khiêm tốn nhưng đã thể hiện rõ xu hướng mục tiêu NetZero không chỉ diễn ra đối với tập đoàn, doanh nghiệp lớn mà đã trở thành câu chuyện thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ để định vị lại mình trên thị trường, nhằm mục tiêu trở thành những doanh nghiệp bền vững hơn.
Theo cơ cấu, hiện nay phần lớn các doanh nghiệp tham gia thuộc ngành dệt may, da giày, hàng xa xỉ. Đây là những ngành đang tiên phong trong ứng dụng năng lượng tái tạo và giảm phát thải; cũng như tham gia các sáng kiến về giảm phát thải toàn cầu rất mạnh mẽ. Không những thế, trong ngành này cũng có những tiêu chuẩn ngành rất chặt chẽ liên quan đến ESG, môi trường, xã hội và phát triển bền vững. Do vậy, đây là ngành đang đi đầu trong chuyển đổi xanh ở Việt Nam cũng như toàn cầu.
Tiếp đó là các ngành liên quan đến hàng tiêu dùng, gia dụng, dịch vụ chuyên nghiệp như tổ chức sự kiện (Việt Nam đã có 2 công ty tổ chức sự kiện đăng ký theo tiêu chuẩn SBTi) và lĩnh vực sản xuất linh kiện, cơ khí.
Với mức độ thâm nhập, tham gia của doanh nghiệp tăng dần qua các năm, cho thấy rõ nỗ lực trong thực hiện mục tiêu NetZero, chuyển đổi xanh ở thị trường Việt Nam cũng như các quốc gia ngày càng lớn.
Từ khi ra đời đến nay tiêu chuẩn SBTi đã liên tục được tái cấu trúc, bổ sung yêu cầu mới và giai đoạn chuyển tiếp để các doanh nghiệp chuẩn bị thích ứng, trong đó đã cập nhật phiên bản mới nhất (phiên bản 2.0) sẽ có hiệu lực từ tháng 1/2028.
Phiên bản mới được tái cấu trúc lại, trong đó có khoảng 42% nội dung mới và có 58% là nội dung được điều chỉnh. Đây là phiên bản được đánh giá có sự thay đổi mạnh mẽ nhất từ trước đến nay trong 5 phiên bản cập nhật và phát hành của SBTi.
Với các quy định của phiên bản mới này sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch, thúc đẩy tham vọng và có trách nhiệm hơn trong hành trình chuyển đổi xanh.
Theo lộ trình, từ tháng 4/2024 đến tháng 5/2026, SBTi đã rà soát và xây dựng Phiên bản mới 2.0, được Hội đồng thông qua ngày 21/5/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 31/1/2027. Tuy nhiên, giai đoạn chuyển tiếp sẽ kết thúc ngày 31/1/2028, đồng nghĩa sau thời điểm này, tất cả các doanh nghiệp trên toàn cầu khi thực hiện xác lập mục tiêu theo Net Zero, theo tiêu chuẩn của SBTi sẽ phải áp dụng bản phiên bản mới.
Nhìn nhận về những điểm mới của phiên bản cập nhật của SBTi, các chuyên gia cho biết có 7 nội dung quan trọng cần phải lưu ý về phạm vi áp dụng và quản trị NetZero cũng như kế hoạch chuyển đổi, phân loại doanh nghiệp; thiết lập mục tiêu; việc thực thi triển khai và trách nhiệm dài hạn.
Bà Hà cho rằng tiêu chuẩn bản 2.0 hướng tới hiệu quả và thực thi nhiều hơn là câu chuyện cam kết và xác lập mục tiêu. Do vậy, các quy định để được xác thực cũng liên quan đến vấn đề hành động của doanh nghiệp chứ không chỉ dừng lại ở mục tiêu thông thường.
Biến đổi khí hậu, thời tiết nắng nóng cực đoan, nhiệt độ ngày một tăng đặt ra yêu cầu xây dựng phát triển các công trình xanh, công trình có khả năng thích ứng, chống chịu nắng nóng, tối ưu năng lượng, giảm phát thải carbon...
Nga đang phát triển đoàn tàu cao tốc đầu tiên do nước này tự chế tạo, có thể đạt tốc độ 400 km/h và chở tối đa 460 hành khách. Việc ứng dụng AI trong hỗ trợ vận hành, kết hợp các giải pháp giảm khối lượng đoàn tàu, tiếng ồn và tiêu thụ năng lượng, được kỳ vọng nâng cao hiệu quả công nghệ đường sắt…
Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam (cập nhật năm 2025) vừa công bố đưa ra 3 kịch bản tương ứng với các mức phát thải và phát triển kinh tế xã hội khác nhau. Điểm đáng chú ý, kịch bản đã bước đầu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu với một số ngành/lĩnh vực nhạy cảm của Việt Nam như sản xuất lúa; sức khỏe cộng đồng; đô thị và công trình…
Biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức lớn cho các địa phương ven biển, đặc biệt là tại tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa. Tuy nhiên, thay vì đến khi thiên tai xảy ra mới ứng phó, người dân nơi đây đã chủ động chuẩn bị trước, giảm thiểu thiệt hại và tìm kiếm những giải pháp bền vững hơn...
Chính phủ Hàn Quốc đặt mục tiêu đạt công suất năng lượng tái tạo 100 GW vào năm 2030 và hướng tới việc xe điện cùng xe chạy bằng hydro chiếm hơn 70% doanh số bán xe mới vào năm 2035...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.