Đối với tình hình xuất khẩu của Việt Nam hiện nay, một đặc điểm nổi bật là xuất khẩu của khu vực FDI chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Theo đó, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, nếu năm 1989 mới chiếm 1/10, thì từ năm 2003 đã vượt qua tỷ trọng của khu vực kinh tế trong nước lên chiếm trên một nửa, đến 6 tháng đầu năm 2013 đã vượt lên chiếm 2/3, tức là cao gấp đôi tỷ trọng của khu vực kinh tế trong nước.
Đạt được sự tăng lên của tỷ trọng trên là do tốc độ tăng của khu vực FDI rất cao. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI năm 2012 đã lớn gấp 3.706,4 lần năm 1990, bình quân 1 năm tăng trên 45,3%, cao hơn nhiều các con số tương ứng của tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (47,7 lần và 19,2%/năm), càng cao hơn các con số tương ứng của kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước (21,8 lần và 15%/năm).
Trong 6 tháng đầu năm 2013, tốc độ tăng của khu vực FDI đạt 23,8%, cao hơn tốc độ tăng chung (15,1%) và cao hơn nhiều tốc độ tăng của khu vực kinh tế trong nước (1,1%).
Khu vực FDI xuất khẩu có tốc độ tăng cao hơn, có quy mô kim ngạch lớn hơn các con số tương ứng của khu vực kinh tế trong nước, nên khu vực FDI đã xuất siêu khá và tăng lên so với cùng kỳ năm trước, góp phần hạn chế nhập siêu của cả nước (theo số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan trong 6 tháng đầu năm cả nước nhập siêu 933,1 triệu USD, khu vực FDI xuất siêu hơn 5,7 tỷ USD, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu trên 6,6 tỷ USD).
Trong các mặt hàng xuất khẩu của khu vực FDI, đáng chú ý có một số mặt hàng sau đây.
Điện thoại các loại và linh kiện là mặt hàng tuy mới xuất hiện trong vài ba năm gần đây nhưng đã tăng lên nhanh và đến 6 tháng đầu năm nay đã vượt qua tất cả mặt hàng khác, lên đứng thứ nhất của khu vực FDI và của cả nước với kim ngạch xuất khẩu đạt trên 9,98 tỷ USD, tăng tới 98,4% so với cùng kỳ năm trước.
Đây là mặt hàng có kỹ thuật-công nghệ cao, góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới kỹ thuật-công nghệ-mục tiêu có tầm quan trọng nhất của việc thu hút FDI.
Đây cũng là mặt hàng góp phần đưa Bắc Ninh và đầu năm nay là Thái Nguyên thu hút một lượng lớn vốn FDI, góp phần làm cho Bắc Ninh 6 tháng 2013 đã vượt lên trở thành địa phương có kim ngạch xuất khẩu gần 11,3 tỷ USD, lớn thứ hai cả nước (chỉ sau Tp.HCM).
Xuất siêu của mặt hàng này trong 6 tháng đầu năm nay khá lớn, lên đến 6,21 tỷ USD, góp phần giảm nhập siêu của cả nước.
Dệt may có kim ngạch lớn thứ 2 của khu vực FDI. Dù tỷ trọng không cao hơn tỷ trọng chung, nhưng kim ngạch của mặt hàng đã chiếm tới 60,1% tổng kim ngạch dệt may của cả nước, nhằm khai thác lợi thế giá nhân công còn rẻ của Việt Nam. Mặc dù khu vực FDI vẫn còn phải nhập khẩu các mặt hàng để sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng ở trong nước (khoảng 4,4 tỷ USD) nhưng mặt hàng này vẫn xuất siêu.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ ba của khu vực FDI, đây là mặt hàng có kỹ thuật-công nghệ cao. Tuy nhiên, nhập siêu mặt hàng này của khu vực FDI tới 4,15 tỷ USD. Điều đó một mặt chứng tỏ khu vực này không chỉ nhập khẩu cho sản xuất hàng xuất khẩu mà còn nhập khẩu tiêu dùng.
Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện quy mô xuất khẩu tuy không lớn nhưng lại là mặt hàng có kỹ thuật-công nghệ cao, chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 trong các mặt hàng xuất khẩu của khu vực FDI. Đối với mặt hàng này khu vực FDI không nhập siêu, nhưng 6 tháng cả nước vẫn nhập siêu trên 114 triệu USD; điều đó cũng đồng nghĩa với việc đầu ra trong nước đối với mặt hàng này của khu vực FDI còn dư địa.
Xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng của khu vực FDI đứng thứ 6 và chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước. Đây là mặt hàng mà khu vực FDI còn nhập siêu 2,64 tỷ USD.
Đây là điều bình thường do đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn và yêu cầu đổi mới thiết bị, kỹ thuật-công nghệ. Tuy nhiên trong số nhập khẩu, nhập siêu này, cũng có không ít các máy móc, thiết bị được nhập khẩu từ một số nước không thuộc nhóm nước có kỹ thuật-công nghệ nguồn, thậm chí còn do các nước chuyển giao, thải loại trong quá trình đổi mới công nghệ của họ, nên tác động đến việc đổi mới nâng cao trình độ kỹ thuật-công nghệ của Việt Nam chưa nhiều.
Mặc dù mới chiếm khoảng 20% GDP, nhưng khu vực FDI đã chiếm tới 2/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và có mức xuất siêu lớn.
Đạt được kết quả lớn này do khu vực FDI có nhiều lợi thế: họ có nguồn vốn lớn, bằng các ngoại tệ mạnh, lãi suất vay vốn thấp; năng lực sản xuất ngày một tăng do lượng vốn đăng ký và lượng vốn thực hiện ngày một lớn, khi các nền kinh tế lớn hồi phục tăng trưởng...; có trình độ kỹ thuật-công nghệ, trình độ quản trị doanh nghiệp cao hơn; có sự hỗ trợ của các công ty mẹ, có các chi nhánh hoạt động ở nhiều nước...; có sự ưu đãi về một số mặt và đây là sự cần thiết để thu hút vốn, thu hút kỹ thuật-công nghệ.
Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI cao cũng có một phần do khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu tăng thấp, nhập siêu lớn do sức cạnh tranh yếu, hiệu quả thấp, lại đang gặp khó khăn lớn về vốn, nợ xấu...
Vì vậy, một mặt cần phát huy những kết quả tích cực của khu vực FDI, mặt khác cần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường cho xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước.
(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu toàn hệ thống chính trị tập trung cao độ, quyết liệt triển khai các giải pháp chống khai thác IUU, thực hiện nghiêm “5 không”, quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC) trong năm 2026, gắn với phát triển ngành thủy sản bền vững...
Chiều 13/10, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đã tổ chức Hội nghị sơ kết và ký kết Quy chế phối hợp công tác với các tỉnh Gia Lai, Khánh Hòa, Đắk Lắk. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường phối hợp, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực công tại ba tỉnh miền Trung Tây Nguyên.
Ngày 13/10 tại Hà Nội, Thủ tướng Lê Minh Hưng tiếp Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Lào và Campuchia, nhấn mạnh vai trò trụ cột của hợp tác quốc phòng - an ninh trong quan hệ song phương, đồng thời đề nghị thúc đẩy hợp tác thực chất, kết nối hạ tầng biên giới, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển công nghiệp quốc phòng.
Chiều 13/10, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã kiểm tra thực địa hai dự án hạ tầng trọng điểm của TP.HCM, gồm dự án Giải quyết ngập do triều khu vực TP.HCM có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu – giai đoạn 1 và dự án xây dựng hạ tầng, cải tạo môi trường Kênh Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên.
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu phát triển nhà ở phải căn cứ nhu cầu thực tế, khả năng chi trả của người dân và điều kiện từng địa phương; khắc phục mất cân đối cung-cầu; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tăng nguồn cung nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, đồng thời hoàn thiện chính sách để hạn chế đầu cơ, tránh lãng phí nguồn lực...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.