
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định quy định phí bảo vệ môi trường đối với khí thải. Đây là khoản thu mới và dự kiến trước mắt chỉ quy định người nộp phí là các cơ sở xả khí thải như các doanh nghiệp sản xuất gang thép, luyện kim, sản xuất hóa chất vô cơ; phân bón vô cơ; thuốc bảo vệ thực vật hóa học; lọc, hóa dầu; tái chế, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải nguy hại; nhiệt điện; sản xuất xi măng...
Theo đó, về mức thu phí bảo vệ môi trường đối với khí thải, căn cứ Luật Phí và lệ phí, để bảo đảm thống nhất với quy định thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp tại Nghị định số 53/2020/NĐ-CP, Bộ Tài chính trình Chính phủ quy định xây dựng mức phí gồm 2 phần: Phí cố định thu đối với mọi cơ sở xả khí thải, để bảo đảm chi phí xử lý các chất nằm ngoài 4 chất (Bụi tổng, NOx, SOx, CO) và phí biến đổi thu bổ sung đối với các cơ sở phải quan trắc khí thải (thu đối với 4 chất: Bụi tổng, NOx, SOx, CO).
Mức phí cố định đối với các cơ sở xả khí thải là 3.000.000 đồng/năm, còn phí biến đổi là 500-800 đồng/tấn đối với 4 chất gây ô nhiễm môi trường gồm bụi tổng, NOx, SOx và CO.
Theo dự thảo, với cơ sở xả khí thải thuộc đối tượng quan trắc khí thải tự động, liên tục và quan trắc định kỳ hàng quý, chậm nhất là ngày 10 của tháng đầu tiên của quý tiếp theo, người nộp phí thực hiện lập Tờ khai phí bảo vệ môi trường đối với khí thải của quý trước, nộp cho tổ chức thu phí. Trường hợp chậm nộp phí theo thông báo thì phải nộp cả tiền chậm nộp theo quy định pháp luật về quản lý thuế.
Người nộp phí thực hiện nộp phí bằng một trong các hình thức sau: Nộp phí theo hình thức không dùng tiền mặt vào tài khoản chuyên thu phí của tổ chức thu phí mở tại tổ chức tín dụng; nộp phí vào tài khoản phí chờ nộp ngân sách của tổ chức thu phí mở tại Kho bạc Nhà nước; nộp phí bằng tiền mặt cho tổ chức thu phí.
Đánh giá tác động của chính sách đối với kinh tế xã hội, Bộ Tài chính cho rằng việc quy định thu phí bảo vệ môi trường đối với khí thải sẽ khuyến khích các cơ sơ xả thải đầu tư công nghệ giảm thiểu xả thải gây ô nhiễm môi trường, phù hợp với chủ trương của Đảng và Chính phủ về bảo vệ môi trường không khí.
Việc quy định thu phí bảo vệ môi trường đối với khí thải tương đồng với phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp đang quy định tại Nghị định số 53/2020/NĐ-CP sẽ góp phần làm tăng hiệu xuất thực thi công vụ, tiết kiệm nguồn nhân lực và tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân liên quan trong việc thu nộp phí bảo vệ môi trường đối với khí thải.
Việc xác định khối lượng khí thải căn cứ trên số liệu quan trắc là đảm bảo công bằng giữa các doanh nghiệp, phát huy vai trò của người dân trong giám sát quá trình thực hiện nghĩa vụ nộp phí của tổ chức xả thải gây ô nhiễm môi trường. Qua đó, người dân có thể phát hiện, phản ánh đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những sai phạm, tiêu cực; xử lý kịp thời những phát sinh liên quan đến đời sống của người dân nơi diễn ra hoạt động xả thải gây ô nhiễm môi trường không khí.
Theo tờ trình dự thảo Nghị định của Bộ Tài chính, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, chất lượng môi trường không khí tại các thành phố lớn, một số khu công nghiệp, làng nghề đang ngày càng suy giảm, tác hại nghiêm trọng đến sức khoẻ cộng đồng, thiệt hại cho nền kinh tế, đe dọa tới môi trường.
Hiện ô nhiễm môi trường không khí, nhất là tại các đô thị lớn đang có xu hướng ngày càng gia tăng, có thời điểm chất lượng ô nhiễm môi trường không khí ở mức báo động. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do hoạt động xả khí thải của các cơ sở xả thải và phương tiện giao thông vận tải.
Hiện cả nước có khoảng 5,1 triệu xe ô tô và số lượng lớn xe máy đang lưu hành và có hàng chục khu tổ hợp, liên hợp trong đó tập trung nhiều dự án, loại hình sản xuất bauxite, gang thép, lọc hóa dầu, trung tâm điện lực, hàng ngày xả thải khối lượng lớn khí thải công nghiệp.
Gần 120.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó có 138 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020, chưa hoàn thành xử lý triệt để.
Đồng thời có khoảng 110.000 doanh nghiệp xây dựng, hoạt động xây dựng nhà ở, khu chung cư, khu đô thị mới, cầu đường, khai thác và vận chuyển vật liệu xây dựng, phế thải diễn ra khắp nơi trong cả nước. Các cơ sở này phát sinh khối lượng lớn khí thải công nghiệp, bụi thải, tác động xấu đến môi trường.
Trong khi đó, phần lớn tổ chức, cá nhân xả thải gây ô nhiễm môi trường không khí chưa ý thức đầy đủ về trách nhiệm trong bảo vệ môi trường không khí.
Vì vậy, Bộ Tài chính cho rằng việc nghiên cứu, xây dựng Nghị định phí bảo vệ môi trường đối với khí thải là cần thiết, nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng và Chính phủ, kiện toàn hệ thống pháp luật phí, phù hợp với đòi hỏi từ thực tiễn và nhằm từng bước nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân xả thải…
Ở những nấc cao hơn của chuỗi giá trị, chuẩn mực không còn đơn thuần là điều kiện để doanh nghiệp tham gia thị trường. Khi được chuyển hóa thành năng lực thực thi, duy trì xuyên suốt và đồng bộ, chuẩn mực sẽ trở thành một phần quan trọng trong sức cạnh tranh của cả nền kinh tế.
Muốn thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, không chỉ cần khu công nghiệp tốt, chính sách tốt, mà còn phải có môi trường sống đủ tốt để chuyên gia quốc tế yên tâm làm việc, gắn bó và đưa gia đình đến sinh sống…
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu phát triển nhà ở phải căn cứ nhu cầu thực tế, khả năng chi trả của người dân và điều kiện từng địa phương; khắc phục mất cân đối cung-cầu; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tăng nguồn cung nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, đồng thời hoàn thiện chính sách để hạn chế đầu cơ, tránh lãng phí nguồn lực...
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.
Pháp luật và xã hội Việt Nam luôn đề cao sự công bằng, nhân văn, bảo vệ lẽ phải và quyền lợi chính đáng của người sở hữu nhà ở, bất kể đó là người Việt Nam hay người nước ngoài. Vì vậy, người nước ngoài có thể chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ pháp lý khi cần thiết...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.