Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Thông tư quy định việc dán nhãn năng lượng đối với vật liệu xây dựng thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
Ngành xây dựng là một trong những ngành tiêu thụ nhiều năng lượng và phát thải khí nhà kính lớn nhất trên thế giới. Các vật liệu như kính xây dựng, vật liệu cách nhiệt, bao che và lợp mái có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng truyền nhiệt của công trình, qua đó tác động đến nhu cầu sử dụng điều hòa và điện năng.
Tại Việt Nam, đô thị hóa, đầu tư hạ tầng và phát triển nhà ở đang làm gia tăng nhu cầu vật liệu xây dựng. Trong bối cảnh ngành Xây dựng phải sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm tiêu hao năng lượng và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, việc thúc đẩy sử dụng vật liệu có hiệu quả năng lượng cao đặt ra yêu cầu về các công cụ quản lý phù hợp.
Trên thực tế, hiệu quả năng lượng của công trình chịu tác động từ lớp vỏ bao che, mái, cửa, kính, vật liệu cách nhiệt, vật liệu hoàn thiện bề mặt và hệ thống kỹ thuật. Các thông số như: hệ số dẫn nhiệt, hệ số thu nhận nhiệt mặt trời, tổng hệ số truyền năng lượng mặt trời và hệ số truyền nhiệt tổng thể của cấu kiện hoặc bộ phận công trình là cơ sở để lựa chọn vật liệu phù hợp.
Tuy nhiên, thông tin về đặc tính nhiệt và hiệu quả năng lượng của nhiều sản phẩm vật liệu xây dựng chưa được công bố thống nhất, gây khó khăn cho việc tra cứu, lựa chọn và kiểm tra. Vì vậy, việc ban hành Thông tư về dán nhãn năng lượng đối với vật liệu xây dựng sẽ góp phần minh bạch hóa thông tin sản phẩm, đồng thời tạo cơ sở cho quản lý theo phương thức công bố, công khai và hậu kiểm.
Theo dự thảo Thông tư, danh mục vật liệu xây dựng phải dán nhãn năng lượng chia thành 2 nhóm. Nhóm 1 gồm: kính xây dựng; vật liệu lợp (ngói lợp mái, ngói đất sét nung; ngói gốm tráng men; ngói bê tông; tôn lợp; tấm ốp kim loại); sơn tường ngoài, sơn mái; cửa; tấm xốp cách nhiệt; sản phẩm bê tông khí chưng áp, tấm tường rỗng bê tông đúc sẵn theo công nghệ đùn ép, tấm tường nhẹ 3 lớp xen kẹp.
Nhóm 2 gồm: gạch gốm ốp lát vỏ bao che công trình, mái, ngoài nhà, vỉa hè; gạch đất sét nung, vật liệu xây không nung (gạch bê tông, gạch bê tông nhẹ), tấm bê tông nhẹ (bê tông bọt, bê tông cốt liệu nhẹ); tấm thạch cao, panel thạch cao cốt sợi, panel thạch cao sợi thủy tinh, tấm trần, vách ngăn sử dụng chất kết dính xi măng, tấm composite, các loại tấm trần, vách ngăn khác; tấm nhựa; ván gỗ nhân tạo, ván dăm, ván sợi sản xuất theo phương pháp khô, gỗ dán, ván ghép từ thanh dày và ván ghép từ thanh trung bình, gỗ, ván ốp tường, trần.
Theo nguyên tắc chung, vật liệu xây dựng được đưa vào danh mục phải dán nhãn năng lượng khi có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng năng lượng của công trình, bộ phận công trình, hoặc hệ thống kỹ thuật trong công trình; có thông số đặc tính nhiệt hoặc thông số liên quan đến hiệu quả sử dụng năng lượng có thể xác định bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc phương pháp thử tương ứng; đồng thời có khả năng tổ chức thử nghiệm, công bố, dán nhãn, kiểm tra và giám sát trên thị trường.
Trường hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc phương pháp thử được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế, thì thực hiện theo văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đó. Đối với sản phẩm có tính chất kỹ thuật mới, chưa có tiêu chuẩn quốc gia tương ứng, thì tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu được sử dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài hoặc tiêu chuẩn cơ sở phù hợp để thử nghiệm, công bố dán nhãn năng lượng và chịu trách nhiệm về tính phù hợp của tiêu chuẩn, phương pháp thử được lựa chọn.
Nhãn năng lượng phải có tối thiểu các thông tin: tên đầy đủ hoặc tên viết tắt của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu; tên sản phẩm/model hoặc mã sản phẩm; thông số công bố; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc phương pháp thử áp dụng. Kích thước mẫu nhãn được thiết kế phù hợp với sản phẩm, bao bì và phải bảo đảm thông tin rõ ràng, dễ nhận biết. Thông tin về nhãn năng lượng được tích hợp thành một nội dung của nhãn hàng hóa hoặc được in thành nhãn riêng.
Về lộ trình, các sản phẩm vật liệu xây dựng thuộc Nhóm 1 thực hiện dán nhãn năng lượng bắt buộc kể từ ngày 1/1/2029. Đối với các sản phẩm thuộc Nhóm 2, thời điểm thực hiện dán nhãn năng lượng bắt buộc từ ngày 1/1/2031.
Ở những nấc cao hơn của chuỗi giá trị, chuẩn mực không còn đơn thuần là điều kiện để doanh nghiệp tham gia thị trường. Khi được chuyển hóa thành năng lực thực thi, duy trì xuyên suốt và đồng bộ, chuẩn mực sẽ trở thành một phần quan trọng trong sức cạnh tranh của cả nền kinh tế.
Muốn thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, không chỉ cần khu công nghiệp tốt, chính sách tốt, mà còn phải có môi trường sống đủ tốt để chuyên gia quốc tế yên tâm làm việc, gắn bó và đưa gia đình đến sinh sống…
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu phát triển nhà ở phải căn cứ nhu cầu thực tế, khả năng chi trả của người dân và điều kiện từng địa phương; khắc phục mất cân đối cung-cầu; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, tăng nguồn cung nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, đồng thời hoàn thiện chính sách để hạn chế đầu cơ, tránh lãng phí nguồn lực...
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.
Pháp luật và xã hội Việt Nam luôn đề cao sự công bằng, nhân văn, bảo vệ lẽ phải và quyền lợi chính đáng của người sở hữu nhà ở, bất kể đó là người Việt Nam hay người nước ngoài. Vì vậy, người nước ngoài có thể chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ pháp lý khi cần thiết...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.