Theo Bộ Giao thông vận tải, nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa từ ngân sách nhà nước rất thấp, khoảng 1,5-2,5% so với tỷ trọng đầu tư của toàn ngành. Vốn duy tu bảo dưỡng cũng chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu thực tế.
Bộ Giao thông vận tải đang dự thảo Thông tư quy định về quản lý, bảo trì công trình thuộc kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa.
Trong đó, liên quan đến yêu cầu bảo trì công trình đường thủy nội địa, Bộ đề xuất bổ sung yêu cầu bảo dưỡng thường xuyên đường thủy nội địa.
Theo Điều 3 Thông tư 01/2019/TT-BGTVT ngày 11/01/2019 hiện hành, yêu cầu về bảo trì công trình đường thủy nội địa nêu rõ, công trình đường thủy nội địa sau khi hoàn thành đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa được nghiệm thu, bàn giao để tổ chức quản lý và bảo trì. Công trình đường thủy nội địa phải có quy trình bảo trì trước khi đưa vào khai thác, gồm: luồng đường thủy nội địa; âu tàu; công trình đưa phương tiện qua đập, thác; cảng thủy nội địa; kè, đập giao thông; báo hiệu đường thủy nội địa...
Tuy nhiên, Thông tư số 01 chưa có yêu cầu bảo dưỡng thường xuyên đường thủy nội địa.
Vì vậy, tại dự thảo lần này, Bộ Giao thông vận tải dự kiến bổ sung quy định bảo dưỡng thường xuyên đường thủy nội địa. Điều tiết khống chế đảm bảo giao thông đường thủy chưa đảm bảo tiêu chí được thực hiện từ ngày 1/1 đến ngày 31/12 hàng năm hoặc theo thời gian trong hợp đồng bảo trì.
Bảo dưỡng thường xuyên công trình đường thủy nội địa được quy định tại Điều 8 dự thảo.
Theo đó, Cục Đường thủy nội địa Việt Nam và cơ quan, đơn vị được phân cấp quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa tổng hợp, lập kế hoạch kinh phí bảo trì công trình đường thủy nội địa hàng năm hoặc theo kỳ kế hoạch trình Bộ Giao thông vận tải phê duyệt.
Nội dung của kế hoạch bảo trì công trình đường thủy nội địa hàng năm gồm 3 điểm chính.
Một là, kiểm tra tuyến định kỳ, đột xuất, phục vụ công tác nghiệm thu; khảo sát, đo dò bãi cạn. Kiểm tra thường xuyên báo hiệu, đèn báo hiệu, điều chỉnh, dịch chuyển báo hiệu đường thủy nội địa trên bờ, dưới nước, trên cầu, bảo dưỡng báo hiệu, tín hiệu, phương tiện, thiết bị, các công trình phục vụ trên tuyến đường thủy nội địa đang khai thác.
Trực đảm bảo giao thông, thông tin liên lạc, phòng chống thiên tai; quan trắc mực nước, theo dõi lưu lượng phương tiện vận tải; cập nhật các dữ liệu có liên quan về công trình đường thủy nội địa và các công tác đặc thù khác theo tiêu chuẩn bảo dưỡng thường xuyên đường thủy nội địa, định mức kinh tế - kỹ thuật quản lý, bảo trì đường thủy nội địa và quy trình bảo trì; điều tiết khống chế đảm bảo giao thông; vận hành âu tàu.
Hai là, sửa chữa định kỳ công trình đường thủy nội địa bao gồm: khảo sát phục vụ thông báo luồng; nạo vét đảm bảo giao thông luồng theo cấp kỹ thuật đã công bố; nạo vét chỉnh trị luồng và gia cố mái taluy (nếu có) theo cấp kỹ thuật.
Sửa chữa âu tàu, kè, nhà trạm, thủy chí; thanh thải vật chướng ngại trong luồng và hành lang bảo vệ luồng; sửa chữa, bổ sung, thay thế báo hiệu, đèn hiệu, tín hiệu; sửa chữa, thay thế, bổ sung hạng mục, công trình phụ trợ, phương tiện, thiết bị, phụ kiện và các phần mềm, dịch vụ ứng dụng công nghệ phục vụ công tác quản lý, khai thác, bảo trì;
Ba là, sửa chữa đột xuất công trình đường thủy nội địa bao gồm: sửa chữa sự cố hư hỏng do thiên tai hoặc sự cố bất thường khác gây ra.
Bộ Giao thông vận tải rà soát, chấp thuận kế hoạch bảo trì công trình đường thủy nội địa cho năm sau trước ngày 15/7 hàng năm; tổng hợp kế hoạch và kinh phí bảo trì vào dự toán thu, chi ngân sách nhà nước hàng năm của Bộ Giao thông vận tải, gửi Bộ Tài chính.
Dự kiến sau khi Thông tư sửa đổi và ban hành có hiệu lực sẽ góp phần hoàn thiện kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa, tạo điều kiện cho phát triển vận tải thủy, phù hợp với tình hình thực tiễn và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.
Theo Bộ Giao thông vận tải, nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa từ ngân sách nhà nước rất thấp, khoảng 1,5-2,5% so với tỷ trọng đầu tư của toàn ngành. Vốn duy tu bảo dưỡng cũng chỉ đáp ứng khoảng 60% nhu cầu thực tế.
Hải Phòng đã đưa thêm 10 khu đất (đợt 2) tổng diện tích hơn 61ha vào thí điểm phát triển nhà ở thương mại…
Với hơn 41.000 người nước ngoài đăng ký tạm trú tại địa bàn, chủ yếu là chuyên gia và lao động tại các doanh nghiệp FDI, nhu cầu nhà ở và môi trường sống đồng bộ ngày càng rõ nét tại Bắc Ninh...
Số lượng người nước ngoài làm việc và sinh sống tại Việt Nam ngày càng tăng, nhưng thị trường nhà ở dành cho nhóm khách hàng này vẫn chưa phát triển tương xứng. Tại Bắc Ninh, khoảng cách giữa nhu cầu tiềm năng và khả năng tiếp cận nhà ở đang đặt ra nhiều vấn đề về nguồn cung, chính sách và dịch vụ…
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi và tháo gỡ nút thắt cho doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, Bộ Tài chính vừa có văn bản yêu cầu các địa phương khẩn trương rút ngắn thời hạn xử lý thủ tục giải thể doanh nghiệp…
Với quy mô hơn 35 ha, chiều dài bến khoảng 600 m và công suất thiết kế 2 triệu tấn hàng hóa mỗi năm, Cảng thủy nội địa Giang Biên được định hướng trở thành điểm gom, trung chuyển hàng hóa giữa Hà Nội, các khu công nghiệp phía Bắc và hệ thống cảng biển Hải Phòng...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.