Theo tờ báo New York Times, cuộc chiến với Iran đã giúp ngành dầu mỏ Mỹ thoát khỏi giai đoạn trầm lắng. Giá dầu tăng giúp cải thiện lợi nhuận của các doanh nghiệp và thúc đẩy một số công ty khoan thêm giếng dầu mới.
Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), sản lượng dầu của Mỹ hiện được dự báo tăng nhẹ trong năm tới và lần đầu tiên vượt mốc 14 triệu thùng/ngày. Trước đó, cơ quan này từng dự báo sản lượng dầu Mỹ sẽ giảm.
Tuy nhiên, theo các lãnh đạo doanh nghiệp và nhà đầu tư trong ngành dầu mỏ, Mỹ khó tận dụng cú sốc gián đoạn này để giành thêm khách hàng từ các nước Vùng Vịnh. Dù xung đột đã ảnh hưởng đến nguồn cung của khu vực, thỏa thuận sơ bộ giữa Mỹ và Iran chỉ giúp tình hình tạm lắng, chứ chưa tạo ra đủ động lực để ngành dầu mỏ Mỹ tăng mạnh sản lượng.
Mỹ khó tận dụng cơ hội này vì nhiều lý do. Dù có quy mô lớn nhất thế giới, ngành dầu khí Mỹ hiện bị chi phối bởi các tập đoàn lớn, nơi cổ đông ưu tiên lợi nhuận ổn định hơn là mở rộng sản lượng bằng mọi giá. Sau nhiều chu kỳ tăng nóng rồi lao dốc, nhà đầu tư không còn muốn các công ty quay lại mô hình tăng trưởng ồ ạt nhưng rủi ro cao như trước.
Ngoài áp lực từ cổ đông, nhiều nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng lo ngại rằng số địa điểm có thể triển khai các giếng khoan mới mang lại lợi nhuận hấp dẫn đang dần thu hẹp. Giá dầu xuống thấp trong năm ngoái còn khiến nhiều công ty cắt giảm nhân sự và thiết bị, khiến ngành dầu mỏ Mỹ khó tăng sản lượng nhanh ở thời điểm hiện tại.
“Tôi không chắc liệu Mỹ có thực sự đủ năng lực và điều kiện để giành thêm thị phần hay không. Vấn đề nằm ở hai câu hỏi: ngành dầu mỏ Mỹ có thể tăng sản lượng không và nhà đầu tư có muốn các công ty làm điều đó không?”, ông J. David Anderson, nhà phân tích tại ngân hàng Barclays, nhận định.
Với khí đốt tự nhiên, bức tranh lại khác. Đây là loại nhiên liệu được dùng để phát điện và sưởi ấm nhà ở. Xuất khẩu khí đốt của Mỹ đang tăng nhanh, trong khi Qatar, một nhà sản xuất lớn khác, có thể mất nhiều năm và chi phí phí lớn để sửa chữa các cơ sở bị hư hại trong chiến tranh.
Sau những biến động gần đây, các khách hàng mua năng lượng có thể cũng thận trọng hơn với việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn cung từ Vùng Vịnh. Nguyên nhân là chính tranh Iran bộc lộ một thực tế rằng hoạt động vận tải biển tại khu vực này có thể bị gián đoạn tương đối dễ dàng.
Dù vậy, rất khó dự báo hướng đi của một cuộc khủng hoảng năng lượng. Câu hỏi lớn hiện nay là liệu giá cao và tình trạng thiếu hụt có khiến nhu cầu dầu mỏ và khí đốt suy yếu lâu dài hay không. Trong vài năm tới, dữ liệu thị trường cũng có thể biến động mạnh, khi các nước vừa tái xây dựng sau khủng hoảng, vừa lập thêm kho dự trữ nhiên liệu mới.
Đầu tháng này, IEA dự báo nhu cầu dầu toàn cầu năm 2027 chỉ cao hơn khoảng 1% so với năm 2025. Theo IEA, đây là tốc độ tăng “thấp hơn nhiều so với mức trung bình dài hạn” trong những năm qua.
“Câu hỏi lớn nhất” là liệu phần nhu cầu đã suy yếu trong vài tháng qua có phục hồi hoàn toàn hay không. Trong đó, bao nhiêu phần chỉ là do một nhà máy hóa dầu ngừng hoạt động và bao nhiêu phần là do người dân giảm lái xe hoặc không còn lái xe chạy xăng”, ông Kaes Van’t Hof, CEO của Diamondback Energy, chỉ ra.
Diamondback Energy, có trụ sở tại Midland, bang Texas, là một trong số ít công ty dầu mỏ lớn của Mỹ khoan thêm giếng dầu mới khi giá dầu tăng trong chiến tranh Iran. Trong khi đó, các đối thủ lớn hơn như Exxon Mobil và Chevron chưa thay đổi kế hoạch sản lượng.
Theo công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes, kể từ khi chiến tranh Iran bắt đầu, các doanh nghiệp đã đưa thêm khoảng 12 giàn khoan mới vào hoạt động tại Mỹ. Phần lớn thuộc về các công ty nhỏ, nhóm thường phản ứng nhanh hơn với biến động giá nhưng đóng góp không lớn vào tổng sản lượng dầu.
Hoạt động khoan mới này vẫn chưa tạo ra mức tăng rõ rệt trong sản lượng dầu của Mỹ. Theo EIA, sản lượng dầu của nước này hầu như không thay đổi so với trước chiến tranh, ở mức 13,7 triệu thùng/ngày, tương đương khoảng 16% sản lượng toàn cầu. Trong khi đó, trước chiến tranh, các nước Vùng Vịnh chiếm khoảng 32% sản lượng dầu của thế giới. Các số liệu này chỉ tính dầu thô, không bao gồm các nhiên liệu liên quan như propane và ethane.
Sau khi hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz được nối lại, thị trường sẽ theo dõi tốc độ khôi phục sản lượng của các nước Vùng Vịnh. Các nước này phục hồi càng chậm, phần nguồn cung mà những nhà sản xuất khác phải bù đắp càng lớn. Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) được dự báo phục hồi tương đối nhanh, trong khi Iraq có thể gặp nhiều khó khăn hơn do cơ sở hạ tầng dầu mỏ kém hơn.
“Khả năng Mỹ giành thêm thị phần có lẽ phụ thuộc nhiều hơn vào tốc độ phục hồi của phần còn lại của thế giới sau cú sốc này”, ông Sam Sledge, CEO ProPetro - công ty dịch vụ chuyên về công nghệ nứt vỡ thủy lực tại Tây Texas, nhận định với New York Times.
Theo ông Sledge, do giá dầu đã ở mức thấp một thời gian dài trước chiến tranh, các công ty Mỹ không thể nhanh chóng tăng sản lượng.
“Đơn giản là họ không có đủ thiết bị và nhân lực”, ông Sledge nói.
Nhìn chung, các công ty dầu mỏ Mỹ không ra quyết định dựa trên giá dầu hiện tại, mà nhìn vào mức giá trong 6 tháng tới hoặc xa hơn. Lý do là các giếng dầu mới thường chỉ bắt đầu cho sản lượng sau khoảng thời gian đó. Gần đây, giá hợp đồng tương lai dầu thô Mỹ giao tháng 12 ở mức khoảng 72 USD/thùng, chỉ nhỉnh hơn một chút so với trước chiến tranh.
“Đây chính là lý do các nhà sản xuất dầu đá phiến Mỹ, dù có thể tăng sản lượng, đã chọn không làm vậy”, ông Wil VanLoh, nhà sáng lập kiêm CEO công ty đầu tư năng lượng Quantum Capital Group, có trụ sở tại Houston, chỉ ra.
Tuy nhiên, nhiều quốc gia khác lại đang ở vị thế có thể hưởng lợi. Tại Vùng Vịnh, UAE đã rời Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), một phần để được tự do hơn trong việc tăng sản lượng. Một số nước Nam Mỹ, như Guyana, cũng đang nhanh chóng nâng sản lượng dầu.
Saudi Arabia, Morocco và Ai Cập ghi nhận lượng du khách quốc tế tăng mạnh so với năm 2019, trong khi Israel, Ireland và một số điểm đến tại châu Á vẫn chưa trở lại mức trước đại dịch Covid-19...
Liên minh châu Âu (EU) có nguy cơ không thể thông qua gói trừng phạt kinh tế mới nhằm vào Nga, khi nhiều nước thành viên không ủng hộ những biện pháp có thể gây tổn hại cho các doanh nghiệp lớn của họ…
Trong lúc ngành hàng không toàn cầu đối mặt nhiều thách thức vì cuộc khủng hoảng năng lượng do chiến tranh giữa Mỹ và Iran gây ra, một số hãng bay vẫn lãi lớn...
Trong khi phần lớn châu Âu đã cho phép cửa hàng hoạt động cả 7 ngày trong tuần, Đức vẫn duy trì quy định hạn chế mua sắm vào Chủ nhật có từ hơn một thế kỷ trước. Tuy nhiên, sức ép vực dậy nền kinh tế trì trệ đang khiến Berlin cân nhắc nới lỏng quy định lâu đời này…
BlackRock đã trở thành công ty quản lý tài sản đầu tiên trên thế giới vượt mốc 15 nghìn tỷ USD tài sản, một con số gần gấp ba lần tổng sản phẩm quốc nội (GDP) danh nghĩa hàng năm của Đức, nền kinh tế lớn nhất Liên minh châu Âu (EU)...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 29-2026 phát hành ngày 20/07/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Hà Nội vừa khởi công xây dựng đồng thời 5 tuyến metro, định hình cấu trúc đô thị đa cực, chuyển dần từ mô hình phát triển tập trung vào khu vực trung tâm sang mô hình phát triển đa trung tâm. Phát triển các tuyến metro đồng thời thúc đẩy TOD tích hợp với nhà ở, thương mại, văn phòng, dịch vụ sẽ tối ưu hóa giá trị sử dụng đất.