
Thị trường đang vào mùa đại hội cổ đông. Vấn đề được đa số các nhà đầu tư quan tâm là tình hình hoạt động của các công ty mà mình đang sở hữu cổ phiếu, đặc biệt là tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền.
Việc chia cổ tức bằng tiền với tỷ lệ cao hiện đang được nhiều nhà đầu tư hưởng ứng, bởi vào thời điểm hiện tại khi mà triển vọng tăng trưởng của thị trường chứng khoán vẫn còn là một dấu hỏi khó giải đáp.
Đề cập đến vấn đề tâm lý của cổ đông muốn trả cổ tức bằng tiền thay vì cổ phiếu, ông Huy Nam - chuyên gia chứng khoán độc lập, lý giải:
- Tôi cho rằng tâm lý này là bình thường và hợp lý. Thứ nhất, xét về bản chất (gốc gác nguyên thủy) việc chi trả cổ tức là bằng tiền.
Bên cạnh việc kiếm lợi tăng giá, mong đợi của người đầu tư cổ phiếu (với doanh nghiệp phát hành) là sau mỗi niên độ kế toán họ sẽ nhận được một khoản lợi bằng tiền. Nên cần xem đây là chuyện tự nhiên thôi.
Việc trả cổ tức không phải bằng tiền, mà cổ phiếu là một hình thức, là ý tưởng đến sau và từ ý muốn của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, kể cả trường hợp này (trả cổ tức bằng cổ phiếu) thì doanh nghiệp cũng phải đang có tiền, hay xem như đang có tiền và có sẵn cổ phiếu, chứ không phải do không có tiền nên mới xoay qua đắp đổi bằng cổ phiếu, hoặc đây như cái cớ “chiến thuật” nào đó.
Thứ hai, xét về nhu cầu thực tế, vào giai đoạn kinh tế khó khăn, thị trường ảm đạm, thì người đầu tư sẽ chờ đợi nhiều vào cổ tức, cụ thể là muốn có tiền để sống.
Có thể ví von họ cần gạo mà mình lại đưa tiếp "hạt giống" (cổ phiếu) thì việc không được đón nhận là điều dễ hiểu.
Có thể sẽ có ý kiến cho rằng phải làm vậy vì doanh nghiệp khó khăn, hay ngược lại doanh nghiệp cần vốn phát triển...
Nếu vậy thì cách làm sẽ khác. Chẳng hạn, có thể không trả cổ tức. Có khi không trả lại thuyết phục hơn là trả bằng cổ phiếu.
Đồng ý là cổ đông ai cũng thích nhận cổ tức bằng tiền, nhất là trong bối cảnh giá cổ phiếu đang khá rẻ như hiện nay. Nhưng liệu việc chi trả cổ tức cao bằng tiền có thực sự tốt?
Trả nhiều thì nhà đầu tư nào chẳng thích, nhất là vào lúc này. Doanh nghiệp có thể cũng thích (được lợi) từ việc trả cổ tức cao, do việc này chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, mạnh gạo bạo tiền, ngay cả vào thời buổi khó khăn...
Tuy nhiên, không thể đánh giá sự việc là tốt hay không một cách quá đơn giản.
Theo tôi việc này cần xét đến hai vấn đề có liên quan, đó là tình trạng doanh nghiệp và chính sách cổ tức của từng doanh nghiệp.
Về tình trạng doanh nghiệp, nói chung doanh nghiệp niêm yết có thể trả cổ tức thấp hơn doanh nghiệp chưa niêm yết, doanh nghiệp nội bộ trả cổ tức cao hơn doanh nghiệp đại chúng, doanh nghiệp mới thành lập hay đang có cơ hội tăng trường mạnh thì có thể trả cổ tức thấp hay thậm chí không trả vào giai đoạn tích lũy giá trị nội tại này...
Về chính sách cổ tức, vấn đề sẽ tùy vào chủ trương, điều kiện hay đặc thù hoạt động và cách xử lý lợi nhuận của từng doanh nghiệp.
Chính sách này thiên về việc hành xử quản trị cấp cao có sự đồng thuận của cổ đông, xử lý tối ưu việc duy trì hài hòa và hợp lý các nguồn tài trợ, đem lại sự thỏa đáng cho cổ đông...
Theo đó, tùy trường hợp, sẽ có cách trả đều đặn, cao thấp theo thực tế thịnh suy, sẽ có doanh nghiệp trả cao và cần trả cao hơn doanh nghiệp khác... Việc xây dựng một chính sách cổ tức còn lệ thuộc vào môi trường hoạt động của doanh nghiệp, về niềm tin, yếu tố minh bạch và luật lệ.
Đó có thể là vấn đề thuế, vấn đề có khuyến khích hay không việc tích lũy tài sản vào doanh nghiệp (giữ của tại doanh nghiệp) hay nên chia về cho từng túi sẽ tốt hơn...
Trong bối cảnh thị trường gặp nhiều khó khăn như hiện nay, nhiều công ty niêm yết thua lỗ, nhưng cũng có không ít các công ty này vẫn chi trả cổ tức rất cao bằng tiền.. Ông thấy gì qua động thái này?
Việc một số công ty niêm yết trả cổ tức cao có thể có một số lý do. Đó có thể là phản ứng chạy thuế thu nhập cá nhân mà cao điểm là vào thời gian cuối năm 2008, lúc đó gọi là tạm ứng nên tỉ lệ có thể bất thường, và cho dù nay thuế có thể được hoãn hay không thu thì chuyện cũng đã rồi.
Nhân đây cũng cần biết vấn đề đánh thuế trên cổ tức có nên hay không, và nên như thế nào, có lẽ cần có thêm sự nghiên cứu và xem xét (suy hơn tính thiệt) sâu sát hơn.
Công ty trả cổ tức cao cũng có thể là do họ đang thừa tiền mà cơ hội kinh doanh thì ít và dự đoán của họ về hiệu quả giữ lại lợi nhuận là không thuyết phục, không tốt hơn cách chia cao cho cổ đông.
Như vậy việc họ trả cổ tức cao xem ra cũng bình thường và có thể nói có phần tích cực (với điều kiện nguồn trả phải hợp lệ và đó là từ lợi nhuận giữ lại). Việc này cũng có thể phát xuất từ một vài chủ trương hay đặc điểm khác.
Ví dụ, doanh nghiệp đã huy động được giá cao, đã kinh doanh đạt hiệu quả tương xứng và nay phải trả cổ tức cho cổ đông xứng với tiền vốn đã nhận được.
Nhưng nếu sự việc không phải từ những động cơ tích cực, với các quyết định hay phán đoán sai qua việc nắn gân để lấy tiếng... thì có thể sẽ không hay.
Tuy nhiên, cũng cần nói thêm, một doanh nghiệp cho dù năm qua bị lỗ, nhưng cân đối lại với lợi nhuận giữ lại vẫn dương thì vẫn có thể trả cổ tức theo chính sách cổ tức đã xác lập....
Việc dòng tiền đảo chiều tại thị trường Mỹ cho thấy nhà đầu tư có xu hướng thận trọng hơn với nhóm cổ phiếu tại thị trường phát triển này.
Tính đến ngày 30/9/2026, hiệu suất PYN Elite âm 12,67% từ đầu năm. Trong vòng 12 tháng, hiệu suất của quỹ âm 19,47%.
Lumen Vietnam Fund duy trì quan điểm tích cực trong dài hạn đối với thị trường cổ phiếu Việt Nam, đồng thời nhìn nhận giai đoạn tích lũy hiện tại là cơ hội tích lũy hấp dẫn, thay vì dấu hiệu cho thấy xu hướng tăng trưởng mang tính cấu trúc đã thay đổi.
Theo một khảo sát năm 2026, trên 1.000 nhà đầu tư cá nhân, tiền gửi tiết kiệm chiếm bình quân 37% danh mục, bất động sản 36%, vàng 14%. Cộng lại, ba kênh truyền thống này chiếm tới 87% tổng tài sản.
Với mục tiêu tăng trưởng GDP của Chính phủ từ 10% trở lên trong năm 2026 và tiếp tục duy trì định hướng tăng trưởng cao trong các năm tới, nhu cầu vốn của nền kinh tế sẽ ở mức rất lớn trong trung và dài hạn.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.