
Tại hội thảo “Chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhà nước: Cơ hội và thách thức”, ngày 26/7, ông Lê Nguyễn Trường Giang, Viện trưởng Viện chiến lược chuyển đổi số, Hội truyền thông số Việt Nam nhấn mạnh: "Chuyển đổi số là một tiến trình, không phải là một mô hình, hay phương thức. Do vậy, không có một mô hình hay phương thức chuyển đổi số cụ thể nào thích ứng và phù hợp cho mọi doanh nghiệp, tổ chức".
Đưa ra bức tranh hiện trạng chuyển đổi số các doanh nghiệp nhà nước (có vốn nhà nước), ông Giang cho rằng chuyển đổi số khu vực này đang gặp rất nhiều khó khăn và phải đối mặt với 6 thách thức lớn.
Thứ nhất, khu vực doanh nghiệp này có những hành lang pháp lý, những quy định, quy chế và cách thức kiểm soát rất chặt chẽ. Đây là yếu tố tạo nên những rào cản trong việc chuyển đổi cách thức tổ chức để chuyển đổi số, bởi không thể muốn chuyển đổi như thế nào cũng được, và muốn chuyển đổi là chuyển đổi được ngay, và sự chuyển đổi cũng chịu rất nhiều ràng buộc, không dễ để chuyển đổi thành công.
Thứ hai, do sự chuyển đổi mô hình tổ chức khó khăn nên chính quá trình này cũng tạo ra nhiều điểm khó khăn trong việc xây dựng lộ trình chuyển đổi số, đặc biệt trong việc xây dựng các mô hình kinh doanh mới hoặc triển khai những hệ sinh thái về mô hình kinh doanh.
Thứ ba, việc chuyển đổi cách vận hành cũng làm phát sinh những khoản đầu tư lớn và với đặc điểm về sự chặt chẽ trong việc kiểm soát quá trình đầu tư dẫn tới hệ quả là thời gian ra quyết định chậm, thủ tục nhiều nên việc xây dựng các sáng kiến số theo mô hình phát triển nhanh “Agile” hoặc xây dựng những hệ sinh thái đầu tư mới để thử nghiệm trở nên khó khăn do chưa có hành lang pháp lý cho quá trình này.
Thứ tư, chuyển đổi số cũng đòi hỏi một cái nhìn toàn cảnh, một cách làm tổng thể, và chỉ thành công, hiệu quả với một tác động tổng thể của tất cả các yếu tố chuyển đổi cùng phối hợp. Tuy nhiên, đây là một trở ngại lớn trong cơ chế ra quyết định tại các doanh nghiệp nhà nước.
Để đảm bảo sự chắc chắn, hầu hết những giải pháp, sáng kiến số hiện nay đang tập trung vào các giải pháp theo mô hình phân tích chi tiết ưu, nhược điểm, qua đó xây dựng thiết kế tổng thể và thiết kế chi tiết theo mô hình “thác nước”. Do vậy, thay vì tạo ra một tác động tổng thể, chuyển đổi số trong các doanh nghiệp nhà nước hiện nay vẫn đang tập trung nhiều vào quá trình số hóa vận hành và xây dựng một số giải pháp cụ thể thay vì tổng thể.
Thứ năm, hiện nay, chuyển đổi số đa phần mới chỉ dừng ở việc hoạch định, vấn đề tổ chức triển khai, đặc biệt xuống các cấp thấp của tổ chức đang là một điểm nghẽn lớn. Do vậy, chưa thực sự tạo ra được lợi thế cạnh tranh động cho doanh nghiệp nhà nước thông qua tiến trình chuyển đổi số.
Thứ sáu, tiến trình chuyển đổi số cũng gặp những trở ngại trong hành lang pháp lý về quy trình, quy định cũng như cơ chế về việc thay đổi và áp dụng những mô hình tổ chức, mô hình nghiệp vụ, mô hình dữ liệu, mô hình vận hành,...
Chính việc thiếu kiến trúc này dẫn đến việc chuyển đổi số không phát huy tối đa những lợi thế trong quá trình ứng dụng vào vận hành thực tế để chuyển đổi một cách căn bản và toàn diện doanh nghiệp sang bản chất kinh doanh mới – trở thành một doanh nghiệp số.
Chuyên gia Võ Trí Thành bổ sung, thách thức lớn hơn đó là từ cơ chế, tính ì của doanh nghiệp nhà nước trong chuyển đổi số.
Tại hội thảo, nhiều ý kiến cho rằng không có mô hình “may sẵn” cho chuyển đổi số của doanh nghiệp nhà nước. Theo ông Giang, chuyển đổi số là một tiến trình, không phải là một mô hình, hay phương thức. Do vậy, không có một mô hình hay phương thức chuyển đổi số cụ thể nào thích ứng và phù hợp cho mọi doanh nghiệp, tổ chức.
Mà chuyển đổi số là một cuộc cách mạng tư duy, đòi hỏi các doanh nghiệp, tổ chức phải chủ động đổi mới và sáng tạo dựa trên những khung khổ mang tính quy luật và nguyên tắc của tiến trình chuyển đổi số để định hình nên chiến lược và mô hình chuyển đổi phù hợp riêng cho doanh nghiệp của mình.
Dữ liệu là nền tảng của tiến trình chuyển đổi số, tính nền tảng này được thể hiện thông qua việc vốn hóa dữ liệu trở thành một “hệ thống ngôn ngữ giao tiếp dữ liệu chung”. Thông qua việc xây dựng kiến trúc dữ liệu nền tảng theo chiến lược nền tảng, các doanh nghiệp sẽ hoạch định được một bức tranh chuyển đổi tổng thể.
“Việc xây dựng kiến trúc dữ liệu nền tảng theo chiến lược nền tảng sẽ cho phép doanh nghiệp nhà nước có thể giải quyết được những điểm nghẽn hiện tại trong tiến trình chuyển đổi số”, ông Giang nhấn mạnh.
Còn theo ông Nguyễn Chí Thanh, Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Giải pháp doanh nghiệp Viettel, tuỳ thuộc vào mỗi đặc thù doanh nghiệp, chuyển đổi số có các xuất phát điểm khác nhau. Chúng ta cần đánh giá hiện trạng cụ thể để xây dựng chiến lược và lộ trình phù hợp với doanh nghiệp.
Để triển khai các ứng dụng, hệ thống cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và khai thác tối đa giá trị từ dữ liệu, cần bắt đầu từ việc xây dựng nền tảng hạ tầng cơ bản, nền móng nhất cho doanh nghiệp.
Ông Bùi Trung Thành, Giám đốc Tư vấn Chuyển đổi số tại Base.vn (Tập đoàn FPT) cũng thừa nhận, những thách thức doanh nghiệp nhà nước đối mặt trong quá trình chuyển đổi số đó là quy mô lớn, được đầu tư từ khá lâu, các nghiệp vụ và quy trình đã ổn định lâu dài nên khó khăn trong chuyển đổi mô hình, trong vận hành, trong ứng dụng công nghệ mới. Quy trình đầu tư, đặc biệt là công nghệ của doanh nghiệp nhà nước gặp phải nhiều khó khăn về mặt thủ tục, hiệu quả đầu tư…
Vì vậy, để chuyển đổi số, theo ông Thành, doanh nghiệp nhà nước cần chuyển đổi tư duy, định hướng của doanh nghiệp từ trung tâm sản xuất sang việc lấy khách hàng làm trung tâm.
"Chuyển đổi các quy trình hoạt động giúp tăng năng suất, tăng hiệu quả. Tạo không gian để nhân sự chuyển đổi, tăng cường các kỹ năng mới trong tác nghiệp, trong phát triển sản phẩm, trong dịch vụ khách hàng", ông Thành nhấn mạnh, đồng thời cho rằng cần lắng nghe phản hồi khách hàng để kịp thời chuyển đổi, tăng trải nghiệm khách hàng. Sáng tạo sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới….
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Với khoảng 44.000 ha cà phê Arabica, Sơn La đang hướng tới phát triển ngành hàng theo hướng sinh thái, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị xuất khẩu. Trước thách thức của biến đổi khí hậu và các yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, tỉnh xác định đẩy mạnh canh tác bền vững, chuyển đổi số, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị, hướng tới mục tiêu đạt 100.000 tấn cà phê nhân vào năm 2030...
Vòng bán kết Cuộc thi Tài năng trẻ Logistics Việt Nam 2026 với sự góp mặt của 54 đội từ các trường đại học, cao đẳng trên cả nước, hứa hẹn sẽ mang đến những màn tranh tài hấp dẫn, khẳng định sức lan tỏa của sân chơi học thuật hàng đầu ngành logistics...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.