Thời gian vừa qua, trong quá trình thu hồi đất cho các dự án, đời sống người dân sau khi đất bị thu hồi chưa được chú trọng. Những vấn đề liên quan đến đời sống, việc làm của người dân sau khi không còn tư liệu sản xuất sẽ được đưa vào dự thảo Luật Đất đai sửa đổi lần này.
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên đã thông tin với báo giới như vậy tại buổi giao lưu trực tuyến về đất đai và môi trường vừa diễn ra tại trụ sở bộ tại Hà Nội.
Thưa ông, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, vậy những sửa đổi quan trọng lần này là gì?
Việc sửa Luật Đất đai không nên quá vội vàng mặc dù đang có nhiều vấn đề nóng bỏng liên quan đến thị trường nhà đất hiện nay. Việc sửa nhiều quá, nhanh quá với nhiều nghị định, siết nhiều luật trên cùng một miếng đất trong khoảng thời gian ngắn cũng rất dễ gây những tác động ngược.
Điều chỉnh luật phải rất khoa học, quan trọng là phải đi vào cuộc sống và được người dân chấp nhận. Quan điểm của tôi là phải rất bình tĩnh, khoa học, phải lắng nghe ý kiến của người dân; và đã sửa là phải tạo được khâu đột phá.
Vậy luật sửa đổi sẽ tạo ra bước đột phá trong những vấn đề trọng tâm nào?
Có nhiều vấn đề đòi hỏi phải có sự sửa đổi để đáp ứng yêu cầu của thực tế. Quan trọng nhất vẫn là vấn đề tài chính đất đai, làm sao phải giải quyết được cơ bản về vấn đề quyền của người sử dụng trong các loại đất.
Từ những quyền lợi này sẽ đi đến nguồn gốc của những tranh chấp là vấn đề giá đất. Giá đất ở đây không thể tăng lên quá mức mà chỉ đến một mức độ nào đó.
Thời gian vừa qua, chúng ta quan tâm nhiều đến vấn đề giá đất nhưng mới chỉ quan tâm tới giá trị hữu hình để hỗ trợ cho dân, còn giá trị vô hình đối với đời sống người dân quan tâm chưa đầy đủ. Giá trị vô hình này là sau khi thu hồi đất rồi, người dân không còn đất nữa thì vấn đề công ăn, việc làm như thế nào.
Thứ hai là chỗ ăn ở. Nếu thu hồi đất mà dân mất nhà thì trong luật quy định rõ rồi. Nhưng quan điểm của tôi là phải để cho người dân đến khu tái định cư trước khi quyết định. Nếu chưa có khu tái định cư thì cũng phải chỉ cho người dân biết tiền đền bù là như thế này, thuê nhà ở chỗ này.
Thứ ba là cơ sở hạ tầng nơi ở mới phải đảm bảo các điều kiện về học hành, chữa bệnh. Đây là những cái mà việc sửa luật phải tập trung vào. Cách trả tiền cho người dân như thế nào cũng phải tính, vì cũng có nhiều chỗ tiền đền bù người dân có thể sống đủ trong 30 năm nhưng mới chỉ 6 tháng có trường hợp đã tiêu hết tiền.
Hạn chế chủ yếu trong cơ chế chính sách hỗ trợ hiện tại được Hà Nội chỉ ra là việc bồi thường, hỗ trợ đều dưới hình thức chi trả trực tiếp tiền cho người dân bị thu hồi đất, dẫn đến tình trạng người dân dùng tiền để mua sắm chứ ít quan tâm đến học nghề, chuyển đổi nghề. Nguy cơ thất nghiệp ở người nông dân mất tư liệu sản xuất là đất đai rất lớn, bởi họ khó học nghề mới.
Bên cạnh đó, phần lớn họ lại ở độ tuổi cao, trình độ văn hóa hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu lao động chất lượng cao. Trong khi đó, các chính sách của trung ương và thành phố về hỗ trợ học nghề, việc làm lại chưa đồng bộ và hiệu quả.
Tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề chênh lệch địa tô, đó là giá đất sơ cấp tính cho dân khi bồi thường, đây là vấn đề phải tính kỹ để đúng giá trị và tiếp cận dần với giá đất đầu ra.
Thứ hai, giá đất đầu ra tới đây cũng không để như tình trạng hiện nay được, phải điều tiết chặt chẽ hơn để lấy chênh lệch địa tô cho ngân sách nhà nước tái đầu tư vào cái vô hình. Như hiện nay sự chênh lệch địa tô chủ yếu nhà đầu tư được hưởng.
Nhưng nếu nhà đầu tư bị thiệt, họ sẽ không mặn mà đầu tư dự án nữa, thưa ông?
Cũng phải nói khách quan, phải tính toán như thế nào tạo động lực cho nhà đầu tư. Chênh lệch địa tô mình cũng phải tính để nhà đầu tư có lợi, người sử dụng đất cũng có lợi.
Nhưng ưu tiên số một vẫn là người dân. Doanh nghiệp có thể là thiệt chỗ này nhưng họ có chỗ khác bù vào, hoặc có thể thiệt trước mắt nhưng lâu dài vẫn có lãi. Trong khi người dân một khi đã thiệt là thiệt đơn, thiệt kép và không có cơ hội để bù lại.
Do vậy doanh nghiệp có thiệt với dân một chút, có hỗ trợ thêm cho dân một chút cũng không ảnh hưởng nhiều và sẽ được biểu dương. Nhà nước phải cân đối được giữa góc độ phát triển kinh tế và an sinh xã hội.
Luật Đất đai sửa đổi lần này gắn với rất nhiều luật khác. Hiện nay đã hình thành nhiều loại thị trường, thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ nhưng quan điểm của riêng tôi khó nhất là thị trường bất động sản.
Bởi vì thị trường này liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều yếu tố không chỉ đơn giản chỉ là hàng hóa mà nó còn liên quan đến cả những vấn đề về xã hội, về sở hữu.
Dự kiến, đến khi nào Việt Nam sẽ có bộ luật đất đai hoàn chỉnh, thưa ông?
Quan điểm của riêng tôi, nếu để xây dựng một bộ luật đất đai thật đầy đủ và hoàn chỉnh thì cũng phải vào giai đoạn 2011-2015. Việc sửa luật lần này sẽ không điều chỉnh nhiều mà chỉ tập trung vào sửa hai vấn đề: kinh tế tài chính đất đai và quy hoạch; kế hoạch sử dụng đất.
Riêng về kế hoạch sử dụng đất, vừa qua Chính phủ đã ra nghị quyết về tam nông, trong đó có đề cập đến diện tích trồng lúa nước. Đây là bài toán phải cân nhắc rất kỹ vì nước ta chủ yếu là nông nghiệp, mà làm nông nghiệp thì rất khó giàu được. Muốn giàu và phát triển, chắc chắn phải làm công nghiệp và dịch vụ, nên phải lấy đất nông nghiệp, nhưng lấy như thế nào mới là điều quan trọng.
Chính vì vậy làm quy hoạch phải cẩn trọng và có tầm nhìn, ưu tiên bây giờ là phải làm quy hoạch vĩ mô. Các ngành và Bộ Tài nguyên và Môi trường phải làm quy hoạch dự báo là giữ bao nhiêu diện tích trồng lúa nước.
Trước hết là dự báo từ nay đến năm 2030 dân số ổn định là bao nhiêu, con số dự báo được đưa ra là 130 triệu dân. Thứ hai là dự báo được năng suất trồng của Việt Nam sẽ phát triển như thế nào. Thứ ba là phải tính theo suất ăn và tính đến vấn đề biến đổi khí hậu.
Từ những cơ sở trên mới tính đến năm 2030 cần bao nhiêu diện tích trồng lúa nước và diện tích này là bất di bất dịch.
Chính vì vậy, luật sửa đổi lần này sẽ quan tâm tới những vấn đề đó, mà đã sửa là phải sửa chi tiết và giải quyết được những vấn đề nóng.
(Theo TBKTSG)
TP.Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình qua Trung tâm Tài chính Quốc tế, hướng tới hình thành chương trình huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm...
Sau kế hoạch chuyển toàn bộ cổ phiếu niêm yết về Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE), cơ quan quản lý tiếp tục tính toán phương án tổ chức lại cách vận hành thị trường với nhiều thay đổi như giao dịch xuyên trưa, nới biên độ dao động giá và rút ngắn thời gian thanh toán…
Quy mô thị trường trái phiếu xanh Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với quy mô tín dụng xanh, trong khi nhiều dự án chuyển đổi xanh cần nguồn vốn trung và dài hạn. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore và Nhật Bản cho thấy Nhà nước có thể hỗ trợ những chi phí đang cản trở doanh nghiệp bước vào thị trường vốn xanh.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, có yêu cầu về nguồn lực cho tăng trưởng sẽ lớn hơn, dài hạn hơn và đa dạng hơn đáng kể so với trước. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 được đặt ở mức từ 10%/năm trở lên, cùng với yêu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là nền kinh tế cần thêm bao nhiêu vốn, mà là nguồn lực đó sẽ được huy động từ đâu, dẫn truyền qua kênh nào và phân bổ như thế nào để tạo ra hiệu quả tăng trưởng cao nhất?
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, việc Việt Nam nghiên cứu khả năng phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của thị trường. Nếu phương án này được thông qua và triển khai, đợt phát hành mới không chỉ mở lại một kênh huy động vốn mà còn là cơ hội để Việt Nam tái thiết lập đường cong lợi suất chuẩn, mở rộng cơ sở nhà đầu tư quốc tế và tạo điểm tham chiếu cho các đợt phát hành trái phiếu tiếp theo trên thị trường quốc tế.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.