
Theo ông Trần Trung Chính, Viện Nghiên cứu đô thị và phát triển hạ tầng, chất lượng đô thị ngày càng tồi tệ vì trước hết đất dành cho những công trình công cộng không được chú trọng từ nghiên cứu phát triển, quy hoạch, đến thực thi và quản lý đô thị.
Thực tế cho thấy đất công cộng, không gian công cộng đã và đang đứng trước nguy cơ xâm lấn rất cao.
Người dân cũng không ngừng lấn chiếm từ các hệ thống hành lang sông, mương trong thành phố, khoảng không gian công cộng lưu không giữa các đơn nguyên nhà... cho đến mọi mảnh vỉa hè của đô thị. Tình trạng này rất phổ biến tại các đô thị lớn.
Cụ thể, theo thống kê, hiện nay, Hà Nội chỉ còn 0,3% tổng diện tích đất dành cho các công viên trong thành phố, bình quân đầu người chưa đạt 1m2/người, chỉ bằng một nửa của Bangkok (Thái Lan). Mặt khác, các công viên của Hà Nội không phân bố đều trên lãnh thổ thành phố, trong số 4 công viên lớn thì 3 công viên thuộc khu vực trung tâm thành phố. Toàn Hà Nội mở rộng cũng chỉ có khoảng 60 công viên.
Nếu tính bình quân diện tích công viên trên người ở 4 quận trung tâm là 1,5m2/người thì khu vực ngoại thành chỉ ở mức 0,05m2/người. Sự phân bố không đều không gian công viên này khiến cho một nửa dân số đô thị Hà Nội, nhất là thanh thiếu niên và người già không thể đến công viên bằng cách đi bộ nên không thể sử dụng chúng dễ dàng và thường xuyên.
Để bù lại cho sự thiếu thốn không gian công cộng chính thức hay được quy hoạch dành cho đi lại, giao tiếp và sinh hoạt xã hội, người dân đô thị xu hướng tận dụng vỉa hè, đường phố cho mọi hoạt động cá nhân và xã hội của họ.
Về vấn đề này, bà Nguyễn Hồng Thục, Viện nghiên cứu định cư nhận định: Từ sau đổi mới đến nay, do tập trung quá nhiều cho sự chuyển đổi kinh tế nên giao thông, công nghiệp, xây dựng khu đô thị mới... được ưu tiên, còn đầu tư cho phát triển dịch vụ công cộng đô thị ở tất cả các cấp độ thành phố, quận, huyện, khu dân cư... bị bỏ ngỏ. Nó minh chứng cho sự lộn xộn diễn ra ở khắp nơi trong các thành phố.
Mạng lưới dịch vụ cũ ngày càng quá tải, xuống cấp do bùng nổ dân số cưỡng bức, do ách tắc giao thông, do sức ép xây công trình xây dựng cao tầng bằng mọi giá lên trung tâm cũ. Bộ mặt các khu trung tâm ở các thành phố lớn như Hà Nội, Tp.HCM... đang bị tàn phá nặng nề làm cho nguy cơ phá vỡ cấu trúc đô thị hiện hữu. Tình trạng hàng rong, chợ tạm, chợ cóc lấn chiếm lòng đường, vỉa hè cũng là minh chứng cho sự quá tải này.
Khi mà các đô thị Việt Nam đang phải đối đầu với những sức ép đó lên các đô thị cũ, chưa có giải pháp nào khả dĩ thì đã phải đương đầu với hiện tượng xây dựng các khu đô thị mới kiểu “đô thị - phòng ngủ” từ khắp các nơi có quỹ đất nông nghiệp. Các dịch vụ công cộng đang rệu rã ở các khu vực trung tâm nay lại càng bi đát hơn khi chưa có ai chịu đầu tư nó ở các khu đô thị mới.
Trên 700 khu đô thị mới đang được đưa vào sử dụng, không nơi nào xây dựng hoàn chỉnh các công trình dịch vụ công cộng đời sống tối thiểu như: việc làm do dịch vụ tại chỗ, chợ, trường học, hành chính dân cư, hạ tầng xã hội, công viên cây xanh, bệnh viện... đã làm cho hoạt động của đô thị tại chỗ thực sự bế tắc.
Sáng ra, hầu hết dân cư tại các đô thị mới lên đường để đi làm, đến các trường học, bệnh viện, chợ búa, giao dịch... ở các trung tâm cũ và chiều tối là dòng người ngược lại, gây ách tắc giao thông, ô nhiễm khói bụi, mua bán vỉa hè, đô thị thực sự hỗn độn. Căn bệnh đó càng trở nên trầm kha khi gần đây các đô thị ngày càng mở rộng, liên kết cả về không gian và hoạt động kinh tế để trở thành vùng đô thị như vùng đô thị Tp.HCM, vùng thủ đô Hà Nội, vùng Đồng bằng sông Cửu Long... Vấn đề an sinh xã hội, dịch vụ công cộng thiết yếu, tiện ích thành phố quá thiếu thốn nếu không được giải quyết tốt sẽ trở thành các bế tắc đô thị trong tương lai.
Bà Vũ Thị Vinh, Phó tổng thư ký Hiệp hội các đô thị Việt Nam khẳng định: để đảm bảo cuộc sống cho người dân, hệ thống các công trình hạ tầng xã hội trong các khu đô thị mới phải hoàn chỉnh và đồng bộ, bao gồm nhà ở, các công trình chăm sóc sức khỏe, hệ thống giáo dục, công trình văn hóa xã hội, các công trình thương mại dịch vụ... đáp ứng nhu cầu hàng ngày của người dân.
Muốn thế, theo ông Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, Chính phủ cần có riêng một nghị định về quy hoạch chỉnh trang đô thị cũ, trong đó quy định phải tăng diện tích các công trình công cộng, từ hệ thống hạ tầng cơ sở đến các công trình phục vụ, vui chơi, giải trí.
Đối với đất thu hồi, khi di chuyển nhà máy, kho tàng ra khỏi nội thị cần dành toàn bộ đất cho công trình công cộng; cải tạo theo hướng ưu tiên mở rộng các hè lối đi cho người đi bộ và phương tiện giao thông công cộng, hạn chế phương tiện ô tô các nhân, đặc biệt đối với các khu phố cổ.
Cần đặc biệt quan tâm đến quy hoạch các điểm dân cư nông thôn liền kề khu đô thị, khi chưa có quy hoạch chi tiết, cơ quan chức năng cần có quy định bắt buộc nhằm chuẩn bị cho các công trình công cộng trong tương lai như làm nhà cách ngõ ít nhất 3-5m, để phục vụ cho việc mở đường, làm hệ thống cấp - thoát nước....; tăng cường công tác quản lý trật tự xây dựng, nhất là trong các khu chung cư, khu ngõ ngách, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm...




TP.Hồ Chí Minh đang xây dựng cơ chế phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình qua Trung tâm Tài chính Quốc tế, hướng tới hình thành chương trình huy động vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm...
Sau kế hoạch chuyển toàn bộ cổ phiếu niêm yết về Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE), cơ quan quản lý tiếp tục tính toán phương án tổ chức lại cách vận hành thị trường với nhiều thay đổi như giao dịch xuyên trưa, nới biên độ dao động giá và rút ngắn thời gian thanh toán…
Quy mô thị trường trái phiếu xanh Việt Nam vẫn còn rất nhỏ so với quy mô tín dụng xanh, trong khi nhiều dự án chuyển đổi xanh cần nguồn vốn trung và dài hạn. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore và Nhật Bản cho thấy Nhà nước có thể hỗ trợ những chi phí đang cản trở doanh nghiệp bước vào thị trường vốn xanh.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, có yêu cầu về nguồn lực cho tăng trưởng sẽ lớn hơn, dài hạn hơn và đa dạng hơn đáng kể so với trước. Khi mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 được đặt ở mức từ 10%/năm trở lên, cùng với yêu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, câu hỏi đặt ra không còn đơn thuần là nền kinh tế cần thêm bao nhiêu vốn, mà là nguồn lực đó sẽ được huy động từ đâu, dẫn truyền qua kênh nào và phân bổ như thế nào để tạo ra hiệu quả tăng trưởng cao nhất?
Sau hơn một thập kỷ không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, việc Việt Nam nghiên cứu khả năng phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD đang thu hút sự quan tâm của thị trường. Nếu phương án này được thông qua và triển khai, đợt phát hành mới không chỉ mở lại một kênh huy động vốn mà còn là cơ hội để Việt Nam tái thiết lập đường cong lợi suất chuẩn, mở rộng cơ sở nhà đầu tư quốc tế và tạo điểm tham chiếu cho các đợt phát hành trái phiếu tiếp theo trên thị trường quốc tế.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.